Ngôn ngữ:
Chiến lược tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu - Yêu cầu bức thiết của công tác quản lý nhà nước

Biến đổi khí hậu cùng với suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường là những thách thức lớn của nhân loại trong thế kỷ 21. Nhiều Điều ước quốc tế đã được Việt Nam cam kết thực hiện nhằm ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng quản lý tài nguyên, môi trường. Trong đó, phần lớn các văn bản đều có đề cập đến công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành động thực tiễn trong vấn đề này. Cụ thể là:

Về biến đổi khí hậu: Trong Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu có quy định về trách nhiệm của các bên tham gia: “Truyền thông đại chúng về các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu; phát triển các chương trình quốc gia hoặc hợp tác quốc tế về giáo dục bồi dưỡng nhận thức của công chúng về biến đổi khí hậu và tác động của nó”.

Về bảo vệ tài nguyên: Trong Công ước chống sa mạc hoá của Liên hiệp quốc có quy định về nghĩa vụ chung của các bên tham gia: (1) Tăng cường nhận thức và sự tham gia của người dân đặc biệt là phụ nữ và thanh niên trong công tác phòng chống sa mạc hoá; (2) Các bên sẽ hợp tác thực hiện các chương trình giáo dục dân chúng về nguyên nhân và hậu quả của sa mạc hoá.

Về bảo vệ môi trường: Trong Công ước đa dạng sinh học, các bên tham gia đã cam kết thực hiện biện pháp chung: “Thúc đẩy và khuyến khích sự hiểu biết về tầm quan trọng và các biện pháp cần thiết phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và đưa các chủ đề này vào chương trình giáo dục”. Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học là: “Các bên tham gia sẽ tăng cường và tạo điều kiện thuận lợi nâng cao nhận thức, giáo dục và sự tham gia của cộng đồng liên quan đến chuyển giao, xử lý và sử dụng an toàn các sinh vật biến đổi gen, có liên quan đến bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, có quan tâm đến các rủi ro đối với sức khoẻ con người”.

Bên cạnh việc sớm tham gia các Điều ước quốc tế trong lĩnh vực này, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách trực tiếp đề cập và xác định công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW (ngày 03 tháng 6 năm 2013) về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”. Trong đó, một trong những nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu là “Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường”.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu bao gồm các giải pháp công trình và phi công trình. Hiện nay, các giải pháp công trình chưa khả thi nên giải pháp phi công trình được coi là ưu tiên hàng đầu. Trong đó, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội được xác định là một trong những giải pháp quyết định.

Đẩy mạnh việc triển khai Chương trình hành động của Chính phủ (NQ 08/NQ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2014) về thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra quyết định số 1213/QĐ-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2014 về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 08/NQ-CP, tiếp đó ngày 29 tháng 10 năm 2014 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra quyết định số 2397/QĐ-BTNMT về việc thành lập Tổ công tác xây dựng Đề án “Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.

Ngoài ra, trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Chiến lược quốc gia về phát triển bền vững và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác đều có một điểm chung trong nhóm giải pháp, đó là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của toàn xã hội liên quan đến các chủ đề về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Có thể thấy, hiện nay đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được ban hành, tuy nhiên để các quy định đó được thực hiện và đi vào cuộc sống, cần phải triển khai thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục để nâng cao nhận thức chung trong toàn xã hội, biến nhận thức thành những hành động đúng đắn, phù hợp.

Thời gian qua, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Các Bộ, ngành đã triển khai thực hiện công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, điển hình là: cuộc thi ý tưởng sáng tạo mô hình sinh thái đa mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu (phòng chống giảm nhẹ thiên tai, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường); làm phim tài liệu truyền hình, xây dựng chuyên mục điểm trên báo in, phát thanh, truyền hình. Đặc biệt, Chương trình biên soạn tài liệu lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục về biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu vào các môn học chính khóa của cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hiện đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai xây dựng.

Nhiều địa phương đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu nhân dịp tổ chức Giờ Trái đất, Ngày khí tượng và nước thế giới, Ngày môi trường thế giới... Các chủ trương, giải pháp của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về bảo vệ tài nguyên đã được tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng đến toàn thể nhân dân.

Hàng năm, các ngành và các địa phương đều tổ chức các sự kiện, chiến dịch truyền thông môi trường; phối hợp với các bên liên quan đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức môi trường cho cộng đồng. Đến nay, đã có nhiều cơ quan, tổ chức ký kết nghị quyết liên tịch với Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm đẩy mạnh các hoạt động phối hợp hành động bảo vệ môi trường, bao gồm Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Liên minh các Hợp tác xã Viêt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam.

Qua công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức,các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân đã có những nhận thức ban đầu về biến đổi khí hậu; nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng và từng bước hình thành ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường. Tuy nhiên, nhận thức chung của toàn xã hội hiện nay vẫn còn một số hạn chế tồn tại.

Trong ứng phó với biến đổi khí hậu: Các cấp ủy Đảng, chính quyền và người dân vẫn chưa có nhận thức đầy đủ, toàn diện về biến đổi khí hậu và tầm quan trọng của công tác ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu thường được gắn liền với các hiện tượng thiên tai, bão, lũ xảy ra hàng năm và đôi khi gắn với cả những thiên tai không có liên quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu như động đất, sóng thần, do đó công tác ứng phó mới chỉ tập trung vào các biện pháp công trình và tâm lý trông chờ vào ngân sách nhà nước, vào tài trợ và đầu tư nước ngoài. Nhận thức về biến đổi khí hậu của cộng đồng còn hạn chế và phiến diện, mới chỉ quan tâm đến các tác động tiêu cực mà chưa quan tâm đến nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu để có những hành động đúng đắn thông qua việc chuyển đổi lối sống, mẫu hình sản xuất và tiêu thụ theo định hướng các-bon thấp, tăng trưởng xanh.

Trong bảo vệ tài nguyên: Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và người dân còn chưa cao, chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của tài nguyên đối với sự phát triển của đất nước, chưa xem xét lợi ích tổng thể và hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan, chưa tính đến tác động của biến đổi khí hậu và yêu cầu của bảo vệ môi trường; chưa coi tài nguyên là nguồn vốn, tài sản cần được định giá, lượng giá. Mô hình phát triển còn nặng về khai thác, sử dụng cạn kiệt, thiếu bền vững; chưa quan tâm thỏa đáng đến phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới và tái chế chất thải.

Trong bảo vệ môi trường: Các cấp ủy Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ, đúng mức về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường đối với sự nghiệp phát triển bền vững đất nước; còn tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức và hành động, giữa cam kết và thực hiện; thể hiện trong việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường. Đặc biệt, trong chỉ đạo, điều hành, tư tưởng “ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ các yêu cầu bảo vệ môi trường” vẫn còn phổ biến ở nhiều cấp ủy và lãnh đạo chính quyền các cấp. Ý thức về bảo vệ môi trường vẫn chưa thành thói quen, nếp sống của đa số dân cư. Một bộ phận nhân dân chưa bỏ được thói quen xấu gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng như: sử dụng quá nhiều túi ni-lông, than tổ ong, vứt rác, chất thải, xác súc vật bừa bãi ở nơi công cộng, nguồn nước. Ý thức của các hộ sản xuất kinh doanh về chấp hành Luật Bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh môi trường chưa cao, để xảy ra nhiều vụ việc khiến người dân bức xúc. Trong nông nghiệp, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và hóa chất không đúng quy định còn diễn ra phổ biến. Ý thức bảo vệ môi trường của một số lớn doanh nghiệp còn thấp, chưa chủ động, tự giác thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của cơ quan, đơn vị mình; vẫn chủ yếu chạy theo mục tiêu lợi nhuận, coi nhẹ yếu tố bảo vệ môi trường; để xảy ra nhiều vụ việc nghiệm trọng không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, sinh kế của người dân mà còn hủy hoại tài nguyên và môi trường tự nhiên, điển hình như vụ công ty Vedan xả chất thải ra sông Thị Vải, vụ gây ô nhiễm môi trường biển của công ty Formosa, vụ gây ô nhiễm môi trường trên sông Bưởi của nhà máy mía đường Hòa Bình...

Thực tế cho thấy, công tác tuyên truyền vẫn bị xem nhẹ và đùn đẩy cho các cơ quan báo chí, truyền thông, nhưng các cơ quan này cũng chưa tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục; việc tiếp cận thông tin về các nội dung cần tuyên truyền còn hạn chế; các phương thức tuyên truyền chưa đa dạng và chưa được khai thác hiệu quả, các cán bộ làm công tác tuyên truyền chưa có đủ kiến thức chuyên môn nhất định. Hơn nữa, thực trạng công tác tuyên truyền còn mang nặng tính hình thức và rời rạc, chưa xác định rõ nội dung, hình thức và phương tiện phù hợp để tuyên truyền cho từng nhóm đối tượng cụ thể trong xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên nhưngnguyên nhân chủ yếu là do khốilượng thông tin về bảo vệ tài nguyên môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là rất lớn, đòi hỏi trình độ và kiến thức chuyên môn nhất định, do đó cần phải có thời gian và cách thức để lựa chọn nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp cho từng đối tượng, vùng miền;các chủ trương, giải pháp về ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên, môi trường được nêu ở quá nhiều văn kiện, qua nhiềuthời kỳ khác nhau nên rất khó được tuyên truyền, phổ biến một cách toàn diện, đồng bộ, thông suốt, gây khó khăn cho người dân trong việc tiếp cận, cập nhật thông tin để nâng cao nhận thức.

Từ những nhận định trên, có thể thấy việc xây dựng một Chiến lược riêng với những quan điểm, mục tiêu và giải pháp cụ thể cho công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là vô cùng bức thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Phạm Kim Long, Trịnh Thị Hải Yến
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

Bài viết đã được đăng tại Tạp chí Tài nguyên và Môi trường kỳ 1 tháng 5/2018

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Thêm bình luận


Security code
Đổi mã khác