Ngôn ngữ:
Các mô hình kinh tế tuần hoàn Việt Nam: Cơ hội định hướng phát triển

1. Mở đầu

Các mô hình phát triển kinh tế truyền thống - kinh tế tuyến tính (Linear Economy), dựa trên nguyên lý khai thác tài nguyên từ môi trường tự nhiên làm đầu vào cho hệ thống kinh tế, thông qua quá trình sản xuất, tiêu dùng và cuối cùng thải loại ra môi trường, với các mô hình này dẫn đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gia tăng chất thải và gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Để giải quyết nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và suy thoái môi trường cần phải thay đổi cách tiếp cận chuyển đổi từ các mô hình “ kinh tế tuyến tính” sang “kinh tế tuần hoàn”, trong đó tài nguyên đầu vào, chất thải, khí thải và năng lượng được tối thiểu hóa ngay từ trong quy trình sản xuất và tiêu dùng từ thiết kế, bảo trì, sửa chữa, tái sử dụng, tái sản xuất, tân trang và tái chế lâu dài dựa trên động lực kinh tế, hướng đến một nền kinh tế phát thải bằng không.

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội nhưng vẫn là quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp. Đặc biệt, mặc dù chỉ là một quốc gia nhỏ xếp thứ 68 thế giới về diện tích, thứ 15 thế giới về dân số, nhưng chúng ta hiện đứng thứ 4 thế giới về rác thải nhựa, với 1,83 triệu tấn/năm (Jambeck et al., 2015). Theo World Bank (2016: 102), chỉ riêng ô nhiễm không khí đã khiến Việt Nam mất đi 5,18% GDP của năm 2013. Ô nhiễm nước cũng có thể gây thiệt hại cho Việt Nam tới 3,5% GDP (The World Bank, 2019). Cùng với đó, tình trạng suy giảm tài nguyên, năng lượng, ô nhiễm đất và suy thoái đất, đặc biệt là biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế của Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu “phát triển nhanh, bền vững” trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết thì hướng tiếp cận chuyển đổi mô hình từ “kinh tế tuyến tính” sang “kinh tế tuần hoàn” cần được xem là một ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo của phát triển đất nước.

2. Kinh tế tuần hoàn

Kinh tế tuần hoàn mô tả một hệ thống kinh tế dựa vào các mô hình kinh doanh thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời” bằng việc giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi các nguyên liệu trong các quá trình sản xuất/phân phối và tiêu dùng ở các cấp độ vi mô (sản xuất, các doanh nghiệp, người tiêu dùng), cấp độ trung gian (ví dụ như các khu công nghiệp sinh thái), cấp độ vĩ mô (thành phố, vùng, quốc gia và rộng hơn nữa), với mục tiêu đạt được phát triển bền vững với ngụ ý đảm bảo chất lượng môi trường tốt, sự thịnh vượng về kinh tế và công bằng xã hội, đáp ứng lợi ích hiện tại và tương lai (William McDonough, 2018). Kinh tế tuyến tính (linear economy) chỉ quan tâm đến việc khai thác tài nguyên, sản xuất, tiêu dùng và thải bỏ ra môi trường, dẫn đến việc tạo ra một lượng phế thải khổng lồ, khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên. Kinh tế tuần hoàn chú trọng việc quản lý và tái tạo tài nguyên theo một vòng khép kín nhằm tránh tạo ra phế thải. Việc tận dụng tài nguyên được thực hiện bằng nhiều hình thức, từ thiết kế lại (Redegine), giảm thiểu (Reduce) sửa chữa (Repair), tái sử dụng (Reuse), tái chế (Recycle), và thay vì sở hữu vật chất thì hướng đến chia sẻ (sharing) hoặc cho thuê (leasing).

Việc chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn là một cơ hội lớn để phát triển nhanh và bền vững , không chỉ đạt mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường mà còn ứng phó với biến đổi khí hậu,(hình 1). Việc chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn giúp đáp ứng các mục tiêu của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (European Commission, 2018). Tiếp cận chuyển đổi từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn mang lại những lợi ích trong bối cảnh khủng hoảng tài nguyên, thực hiện SDGs, ứng phó với biến đổi khí hậu (Parson Michael, 2019): (i) cách tiếp cận này không chỉ là những điều chỉnh nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của nền kinh tế truyền thống - kinh tế tuyến tính mà còn là một sự thay đổi hệ thống tạo ra khả năng phục hồi lâu dài, cơ hội kinh doanh cũng như mang lại những lợi ích môi trường và xã hội; (ii) là cơ sở tiền đề để thực hiện các mục phát triển bền vững (SDGs 2030) thông qua đảm bảo sản xuất và tiêu dùng bền vững như: giảm tỷ lệ hiện nay về suy thoái tài nguyên, gìn giữ cho đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai; nâng cao nhận thức của người dân về tái sử dụng, tái chế chất thải, hạn chế tiêu dùng các mặt hàng sử dụng một lần không cần thiết; mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất để hỗ trợ thực hiện 100% tỷ lệ tái chế nguyên liệu; (iii) là con đường hướng đến nền kinh tế các bon thấp, đặc biệt trong các ngành công nghiệp nặng. Tính toán của EU cho thấy, kinh tế tuần hoàn thông qua việc đo lường, kiểm soát các hoạt động từ phía nhu cầu có thể giúp giảm hơn một nửa lượng khí thải phát ra từ các ngành công nghiệp.

3. Những yếu tố cơ bản cần xem xét liên quan đến chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn

Chuyển đổi từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn có 4 yếu tố liên quan chính được xác định sẽ ảnh hưởng gồm: thể chế, tài chính, văn hóa, công nghệ và kỹ thuật.

(1) Vai trò của các bên liên quan

Trong thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập người sản xuất và người tiêu dùng đóng vai trò là “người chơi”, nhà nước đóng vai trò điều tiết nhằm tránh thất bại thị, cùng với đó, trong hệ thống kinh tế còn tồn tại các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp... Việc chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn đòi hỏi phải có sự thay đổi cả hệ thống, trong đó phát huy vai trò của các bên liên quan là hết sức quan trọng. Thực tiễn cho thấy, để thực hiện “kinh tế tuần hoàn”, Ủy ban Châu Âu đã kêu gọi sự tham gia của tất cả các bên liên quan từ các cơ quan chính phủ, các doanh nghiệp sản xuất, phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, người thu gom rác... (European Recycling Platform, 2017). Theo Ellen Macathur Foundation thì: “Các tổ chức chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và tạo điều kiện cho một nền kinh tế tuần hoàn xuất hiện và phát triển mạnh. Họ định hướng và tạo động lực cho đổi mới và đầu tư. Mô hình kinh tế tuần hoàn cung cấp một khuôn khổ cho phép chính phủ và các thành phố hiện thực hóa nhiều tham vọng kinh tế, môi trường và xã hội của họ (Ellen Macathur Foundation, n.d.).

(2) Tiếp cận thị trường trong hoàn thiện thể chế, chính sách

Thể chế bao gồm: (a) hệ thống quy định pháp luật, cơ chế, chính sách do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển các yếu tố thị trường, thị trường và hoạt động của các chủ thể thị trường; điều tiết hành vi của các chủ thể, qua đó điều tiết hoạt động của mô hình kinh tế và can thiệp giải quyết những khiếm khuyết của thị trường…, thực hiện tôn trọng các nguyên tắc, quy luật của KTTT; (b) hệ thống tổ chức bộ máy, nhân lực và cơ chế phối hợp, thực thi của Nhà nước để hoạch định, quản lý, giám sát các chính sách, pháp luật đề ra; (c) hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp hoạt động với vai trò phản biện, giám sát thực thi pháp luật, chính sách và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân, các chủ thể của thị trường trong các vấn đề liên quan. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, thiết lập hệ thống hành lang pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, giám sát thực thi. Một số yêu cầu cụ thể cần được thiết lập để tạo cơ sở cho hình thành và phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn dưới góc độ thể chế như: thể chế rõ và thực thi đầy đủ vai trò và trách nhiệm của chính quyền các cấp; phát huy vai trò của các công cụ dựa vào thị trường (thuế, phí, lệ phí; cơ chế dựa vào lợi ích) để điều tiết hành vi của các chủ thể trong hệ thống kinh tế (doanh nghiệp, người dân) trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người hưởng lợi từ tài nguyên phải trả tiền”; tạo dựng các yếu tố thị trường, điều kiện thị trường để hình thành, vận hành và phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ môi trường, các sản phẩm tái chế, tái sử dụng.

(3) Quản trị môi trường

Quản trị môi trường là sự tương tác đa cấp (địa phương, vùng, quốc gia, toàn cầu) giữa nhà nước, thị trường và các tổ chức xã hội trong tiến trình xây dựng và thực hiện các chính sách về quản lý môi trường nhằm nâng cao chất lượng môi trường và đạt được sự phát triển bền vững (UNEP, 2009)”. Theo UNDP: “Quản trị tốt thúc đẩy sự bình đẳng, sự tham gia, sự đồng thuận, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và pháp trị, trong một cách có hiệu lực, hiệu quả và lâu dài”. Một số yêu cầu cụ thể để thực hiện quản trị môi trường tốt gồm: (1) sự tham gia: đòi hỏi trong quá trình thực thi các biến pháp bảo vệ môi trường cần có sự tham của tất cả các bên liên quan; (2) sự đồng thuận: tạo dựng được sự đồng thuận của các bên liên sẽ góp phần rất lớn để giảm thiểu những xung đột trong quá trình thực hiện; (3) trách nhiệm cao: một hệ thống quản trị tốt, yêu cầu các bên liên quan phải nêu cao trách nhiệm trong việc giải quyết các vấn đề; (4) minh bạch thông tin: Minh bạch thông tin giúp nâng cao khả năng kiểm tra và giám sát, tăng cường phòng chống tham nhũng và các chương trình quản trị tốt, qua đó sẽ giúp cho hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế theo hướng nghiêm minh và hiệu lực; cải thiện niềm tin của nhân dân; giảm thiểu những mâu thuẫn nảy sinh giữa các bên liên quan; (5) đáp ứng bằng các hành động cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung; (6) công bằng và bao quát: công bằng giữa các chủ thể và công bằng giữa các thế hệ; các hoạt động bảo vệ môi trường phải tính đến những lợi ích trước mắt và cả lợi ích lâu dài; tính đến những ngoại ứng tích cực và ngoại ứng tiêu cực mang lại cho xã hội, DN và cộng đồng dân cư nơi; (6) hiệu quả và hiệu lực: hệ thống quản trị tốt đồng nghĩa với việc các quá trình và các thể chế được đưa ra đạt được mục tiêu chung của xã hội trêng khi vẫn đảm bảo sử dụng tối ưu nhất các nguồn lực của xã hội.

(4) Thị trường hàng hóa, dịch vụ môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường; ngành công nghiệp môi trường đòn bẩy để tiến tới phát triển kinh tế tuần hoàn ở cấp độ vĩ mô của nền kinh tế.

Hàng hóa môi trường là những sản phẩm được đem ra trao đổi trên thị trường mà sản phẩm đó đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng môi trường do cơ quan quản lý nhà nước quy định. Theo nghĩa hẹp, hàng hóa môi trường là những hàng hóa sản phẩm: (a) Trực tiếp góp phần làm giảm ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nước như sản phẩm có thể tạo ra năng lượng tái tạo như tấm năng lượng mặt trời, nhiên liệu sinh học, năng lượng gió; (b) Góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường thông qua quá trình sản xuất. VD sản phẩm được sản xuất bằng việc sử dụng năng lượng tái tạo thay cho nhiên liệu hóa thạch hoặc giảm tối thiểu chất thải từ quá trình sản xuất; (c) Là những sản phẩm hàng hóa góp phần vào hoạt động quan trắc, xử lý những vấn đề ô nhiễm phát sinh như hệ thống xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn, thiết bị phân tích quan trắc… Ngành công nghiệp môi trường bao gồm tất cả các hoạt động mang lại thu nhập gắn liền với (1) sự tuân thủ các quy định luật pháp về môi trường; (2) đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; (3) kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và phục sinh các tài sản đã bị ô nhiễm; (4) cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường như nước, các vật liệu được thu hồi và nguồn năng lượng sạch; và (5) các công nghệ và các hoạt động góp phần tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất sản xuất và tăng trưởng kinh tế bền vững (có khả năng ngăn ngừa ô nhiễm).

(5) Trách nhiệm xã hội và văn hóa sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, tái chế, tái sử dụng chất thải trong nền kinh tế

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang được xem như là một trong những chiến lược kinh doanh hàng đầu của doanh nghiệp hơn là những quy định hay từ thiện bắt buộc. Triển khai tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không những sẽ giúp cho doanh nghiệp kinh doanh tốt mà còn hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược liên quan đến kinh doanh và các vấn đề xã hội (Nguyễn Thế Chinh, 2016). Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế - quốc tế ngày càng sâu và rộng các tiêu chuẩn kỹ thuật và việc chấp hành các quy định về môi trường trong các sản phẩm hàng hóa xuất – nhập khẩu ngày càng được quan tâm và thể hiện chặt chẽ hơn trong các cam kết hội nhập mà các quốc gia thành viên tham gia.

Văn hóa được xác định là một trong những rào cản lớn đối với việc khởi động cho phát triển kinh tế tuần hoàn. Ở Việt Nam, phương hướng, định hướng “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội dung quan trọng của phát triển” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, 2014). Dưới góc độ môi trường, văn hóa chi phối hành vi của doanh nghiệp, người tiêu dùng trong ứng xử với thiên nhiên, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phân loại, tái sử dụng, tái chế chất thải. Do vậy, để chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn, vấn đề văn hóa phải hết sức được chú trọng nhằm bảo tồn, tạo dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, tái sử dụng, tái chế chất thải.

Ngoài ra, những yếu tố sau cũng được đề cập đến như (i) Tiêu dùng công bền vững: khởi đầu và hạt nhân cho thúc đẩy kinh tế tuần hoàn; (ii) Khoa học, kỹ thuật và công nghệ; (iii) Thông tin, dữ liệu được xem như nền tảng để thực thi, đo lường, đánh giá, giám sát kinh tế tuần hoàn.

4. Nhận dạng tiếp cận mô hình kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam

Xem xét từ bản chất, nội hàm, quá trình hình thành và phát triển để khái quát hóa mô hình kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam có thể nhận thấy hiện nay chúng ta chưa có mô hình kinh tế tuần hoàn, tuy nhiên những mầm mống hình thành và nhìn nhận từ động lực kinh tế từ trước đến nay, những mô hình gần với kinh tế tuần hoàn đã có khá sớm, xét theo lĩnh vực ngành có thể nhìn nhận như sau.

4.1. Đối với ngành nông nghiệp

- Mô hình thu gom phân ủ tưới hoa màu và rau ngoại thành Hà Nội (điển hình làng Cổ Nhuế, huyện Từ liêm, Hà Nội trước đây, những năm thập niên 50-70 của thế kỷ XX khi chưa xuất hiện bồn vệ sinh dùng nước. Rơm rạ là thức ăn cho trâu bò, thời chiến tranh rơm rạ là nguyên liệu chế ra các trang bị tránh mảnh bom, mảnh đạn.

- Mô hình vườn – ao – chuồng (VAC), vườn – rừng – ao – chuồng (VRAC) từ những thập niên 70-80 của thế kỷ XX, mô hình kinh tế sinh thái từ những thập niên 90-2000. Những mô hình này là sự kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi theo dạng chuỗi thức ăn, sau này đến sau năm 2000 bổ sung thêm thu hồi khí từ vật nuôi dạng hầm Biogas.

- Hiện nay, mô hình chăn nuôi hộ trang trại thu hồi phân, khí Biogas mang lại hiệu quả kinh tế tăng thu nhập cùng với bán sản phẩm đầu ra, điển hình mô hình nuôi bò Mộc Châu của một số hộ gia đình.

- Mô hình sử dụng rơm rạ sau thu hoạch lúa dùng để cho trâu bò ăn, sản xuất nấm rơm, vật liệu xây dựng ở một số địa phương nhưng chưa phổ biến. Thu hoạch tận dụng bẹ ngô làm hàng thủ công mỹ nghệ.

4.2. Đối với ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Sự xuất hiện nay tại các làng nghề truyền thống ở Việt Nam sử dụng các phế liệu, phụ phẩm , chất thải từ chất thải sản xuất công nghiệp: Sản xuất thép tái chế-Đa Hội Bắc Ninh, sản xuất giấy tái chế Dương Ổ-Bắc Ninh, sản xuất đồ nhựa, nilon tái chế Minh Khai-Hưng Yên, Làng nghề đúc đồng từ phế liệu đồng ở Ý Yên-Nam Định, thủy tinh tái chế …xuất hiện sớm và nay vẫn tồn tại và phát triển.

- Sản xuất sạch hơn đã được triển khai trong các doanh nghiệp và đem lại hiệu quả nhất định đối với các doanh nghiệp có công nghệ cũ sử dụng lãng phí tài nguyên, năng lượng và xả thải trực tiếp ra môi trường. Mô hình này được tiếp cận dựa trên cơ sở sinh lời của doanh nghiệp nhờ cải tiến các công đoạn sản xuất, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng và thu hồi chất thải, chính vì vậy đã huy động được sự tham gia của các doanh nghiệp trên nguyên tắc tự nguyện là chính. Điển hình như công ty sàng tuyển than Cửa Ông, Quảng Ninh thay vì nước rửa than trược đây thải ra biển Bái Tử Long, sau đó chuyển sang thu hồi nước, lắng đọng cặn dạng than bùn, sử dụng lại nước rửa than, hạch toàn kinh tế tăng lợi nhuận cho công ty và không xả thải ra môi trường.

- Sự ra đời của của khu công nghiệp sinh thái mới đây ở Hải Phòng, Ninh bình và một số địa phương khác từ chỉ đạo của Chính phủ đã có sự đánh giá tổng kết của UNIDO là mô hình gần với kinh tế tuần hoàn mang lại hiệu quả kinh tế điển hình ở Việt Nam.

- Một số doanh nghiệp đã có những biểu hiện tái sử dụng, tái chế chất thải như công ty thuốc là Thăng long trước đây (bán cuộng thuốc lá cho nông hộ trồng hoa Vĩnh phúc làm phân bón, bán lại phần loại thải bìa Caton), công ty bia Hà Nội (sử dụng lại chai theo hình thức đặt cọc), công ty bia Heniken (sử dụng lại chai và tái chế nắp chai)…và nhiều công ty khác không để lãng phí chất thải có thể tái sử dụng, tái chế mang lại hiệu quả kinh tế. Đã xuất hiện đầu ra chất thải của doanh nghiệp này là đầu vào sản xuất của doanh nghiệp khác.

4.3. Đối với ngành dịch vụ, du lịch

- Dịch vụ thu gom phế liệu, phế thải có giá trị đầu vào cho tái sử dụng, tái chế như sắt thép và kim loại khác đã có từ rất sớm ở Hà Nội-đường đê La Thành, thu gom tóc rối lông gà lông vịt-làng chùa Khúc-Hà Nội, các mô hình này xuất hiện từ những thập niên 50-60 của thế kỷ XX.

- Dịch vụ xử lý rác thải theo công nghệ mới như công nghệ chân không để tạo ra các nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp tư nhân-Quảng Bình, công nghệ đốt phát điện-TP.Hồ Chí Minh, công nghệ ủ rác thu hồi khí Mê Tan và phát điện-Hà Nội.

- Trong lĩnh vực thương mại, xuất hiện giảm thiểu chất thải nhựa, túi nilon thay thế sản phẩm dễ phân hủy và sử dụng nhiều lần.

- Trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng việc thu gom chất thải thức ăn dư thừa để bán lại cho cơ sở chăn nuôi hoặc chế biến phân bón hữu cơ có thể được xem tiếp cận kinh tế tuần hoàn.

Nhìn nhận các mô hình thuộc ba nhóm ngành kinh tế gần với kinh tế tuần hoàn cho thấy, chúng ta mới dừng lại ở tái sử dụng, tái chế chất thải mang lại lợi ích về tài chính cho cơ sở sản xuất và tiêu dùng, chưa mang lại lợi ích kinh tế nên chính hoạt động của các mô hình đó đã gây ra ô nhiễm và suy thoái môi trường.

5. Cơ hội, thách thức phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam

5.1. Cơ hội

Phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam hiện nay có những cơ hội sau.

Thứ nhất, đây là xu hướng chung của toàn cầu đã được chứng minh thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới như Thụy điển, Đan Mạch, Phần Lan, Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapo…, chính vì vậy Việt Nam sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm của các nước đi trước.

Thứ hai, chúng ta đang quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN việc chuyển đổi mô hình từ “kinh tế tuyến tính” sang “kinh tế tuần hoàn” được thiết kế từ chủ trương của Đảng nhằm phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững là cơ hội lớn.

Thứ ba, việc khuyến khích và tạo cơ chế cho kinh tế tư nhân phát triển trong bối cảnh thị trường cạnh tranh sẽ có nhiều cơ hội cho đầu tư của tư nhân vào thực hiện các mô hình kinh tế tuần hoàn.

Thứ tư, chúng ta đang hướng đến cách mạng 4.0 thực hiện các mô hình kinh tế tuần hoàn gắn với công nghệ cao sẽ là cơ hội lớn cho thực hiện đầu tư các mô hình mới.

Thứ năm, áp lực của thiếu hụt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, lượng chất thải lớn, nhất là chất thải nhựa và túi Nilon được Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng, do vậy thực hiện các mô hình kinh tế tuần hoàn cần nắm bắt cơ hội này. Ngoài ra chúng ta đang thực hiện SDGs và ứng phó với BĐKH, mô hình kinh tế tuần hoàn chính là cách thức phát triển giúp cho thực hiện nhiều mục tiêu, chỉ tiêu yêu cầu của SDGs, phát triển kinh tế tuần hoàn sẽ là ưu thế cho giảm thiểu các chất gây hiệu ứng nhà kính, vì chúng được thu hồi gần như triệt để, không phát thải ra môi trường.

5.2. Thách thức

Thứ nhất, nhận thức đúng về bản chất của mô hình kinh tế tuần hoàn được thực hiện từ thiết kế đến triển khai, trong các ngành, lĩnh vực, đối với từng doanh nghiệp, người dân và các cấp quản lý, lãnh đạo để tạo ra một đồng thuận chung là thách thức lớn.

Thứ hai, kinh tế tuần hoàn gắn với đổi mới công nghệ và thiết kế mô hình trong bối cảnh chúng ta là nước đang phát triển, phần lớn công nghệ lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, đây là thách thức lớn cần phải vượt qua.

Thứ ba, chúng ta chưa có hành lang pháp lý cho phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, thách thức này cần phải được khắc phục, nếu không việc thực hiện các mô hình kinh tế tuần hoàn cũng chỉ là tự phát và chịu sự điều chỉnh của động lực thị trường.

Thứ tư, chúng ta chưa có bộ tiêu chí để nhận diện đánh giá, tổng kết và đưa ra phân loại chính xác mức độ phát triển của các mô hình kinh tế đã có, loại mô hình nào là mô hình kinh tế tuần hoàn, mô hình gần với kinh tế tuần hoàn từ đó có kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp và nhân rộng.

Thứ năm, mô hình kinh tế tuần hoàn là đỉnh cao của cách tiếp cận hướng đến phát thải bằng không, đòi hỏi một sự phối hợp chia sẻ thực sự gắn với lợi ích kinh tế mà mô hình mang lại, trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta đây là thách thức lơn.

6. Đề xuất kiến nghị phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam

Thứ nhất, cần phải có một hành lang pháp lý rõ ràng cho hình thành, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, từ chủ trương của Đảng đến pháp luật của Nhà nước. Kinh nghiệm các nước đã và đang thực hiện kinh tế tuần hoàn đều có luật và quy định pháp lý rõ ràng. Việt Nam nên có lộ trình và tiến tới xây dựng luật cho phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn.

Thứ hai, cần triển khai nghiên cứu sâu rộng về phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn trong nền kinh tế từ cách tiếp cận chung toàn cầu, nguyên tắc xác lập mô hình, tiêu chí của mô hình kinh tế tuần hoàn vận dụng cụ thể vào hoàn cảnh Việt Nam và phổ biến rộng rãi đến doanh nghiệp, người dân, các nhà quản lý để có một nhìn nhận đúng và rất thực tiễn.

Thứ ba, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn cần phải dựa trên các mô hình đã có như các mô hình 3R (giảm thiểu, tái sử dụng và Tài chế chất thải) gần với các tiêu chí của mô hình kinh tế tuần hoàn, cần bổ sung hoàn thiện và có sự lựa chọn phù hợp cho từng ngành, lĩnh vực từ thí điểm đến triển khai nhân rộng

Thứ tư, tạo cơ chế để hình thành động lực thị trường dựa trên các tiêu chí của hiệu quả đầu tư, khuyên khích doanh nghiệp, người dân nhất là khu vực tư nhân đầu tư mạnh mẽ thực hiện các mô hình kinh tế tuần hoàn, đẩy mạnh trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Thứ năm, tăng cường trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, nhất là các quốc gia đã và đang thực hiện thành công mô hình kinh tế tuần hoàn, từ đó chuyển giao và áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Các mô hình KTTH gắn với công nghệ cao và cách mạng công nghiệp 4.0, do vậy cần có cơ chế chính sách cho phát triển công nghệ sạch, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, chất thải phải là nguồn tài nguyên trong nền kinh tế xét cả khía cạnh sản xuất và tiêu dùng.

7. Kết luận

Phát triển các mô hình KTTH ở Việt Nam đòi hỏi phải hiểu rõ bản chất của mô hình này, phân định rõ mô hình kinh tế tuần hoàn với các mô hình đã có, lưu ý các mô hình gần với các tiêu chí của mô hình KTTH là cơ sở để nâng cấp và phát triển lên thành mô hình KTTH trong các ngành và lĩnh vực. Để phát triển các mô hình KTTH cần nhận rõ những thách thức và cơ hội của quá trình hình thành và phát triển. phát triển nền KTTH nói chung và các mô hình KTTH nói riêng, cần có hành lang pháp lý rõ ràng kể cả việc ban hành luật KTTH.

PGS.TS.Nguyễn Thế Chinh
TS.Lại Văn Mạnh
TS.Nguyễn Hoàng Nam
(Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ TN&MT)

 

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Almas Heshmati. (2015). A Review of the Circular Economy and its Implementation. Forschungsinstitut zur Zukunft der Arbeit Institute for the Study of Labor.

2. Andrew Morl. (2015). Delivering the circular economy: a toolkit for policymakers. Foundation Ellen MacArthur.

3. Andrew Morlet, S. H. (2015). Delivering the Circular Economy A toolkit for policy makers. Ellen MacArthur Foundation,.

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, (2014, 9 6). Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

5. Bộ TN&MT. (2018). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017: chuyên đề quản lý chất thải rắn. Hà Nội: Nxb Tài nguyên và Môi trường.

6. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. (2015, 4 24). Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn.

7. Đặng Quốc Thắng. (2016). Báo cáo tổng kết đề tài KHCN Cấp Bộ:. Hà Nội: Bộ TNMT.

8. Doãn Thành. (2019, 2 16). Tỷ lệ đô thị hóa năm 2019 sẽ đạt 40%. Retrieved from Kinh tế và Đô thị: http://kinhtedothi.vn/ty-le-do-thi-hoa-nam-2019-se-dat-40-336325.html

9. Ellen Macathur Foundation. (n.d.). Institutions, Governments & Cities. Retrieved from Ellen Macathur Foundation: https://www.ellenmacarthurfoundation.org/our-work/approach/government-and-cities

10. European Commission. (2018). Communication from the commission to European paliament, the council, the european economic and social comittee and the committee of regions: on a monitoring framework for the circular economy. Strasbourg,: European Commission,.

11. European Recycling Platform. (2017). Circular Economy: Roles and Responsibilities for involved stakeholders. https://erp-recycling.org/wp-content/uploads/2017/11/ERP-Circular-Economy-Roles-and-Responsibilities.pdf.

12. Fabrice Mathieux. (2017). Critical raw materials and the circular economy. : Joint Research Centre, Via E. Fermi 2749, 21027 Ispra, ITALY: European Commission. doi:10.2760/378123

13. Jinhui Li. (n.d.). Role of circular economy in achieving Sustainable Development Goals( SDGs): A Case Study of China., (pp. http://www.uncrd.or.jp/content/documents/4418Presentation_Jinhui%20Li_PS-1.pdf).

14. MONRE. (2017). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016: chuyên đề môi trường đô thị. Hà Nội: Nxb Tài nguyên và Môi trường.

15. MONRE Việt Nam. (2017). Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 - chuyên đề: môi trường độ thị. Hà Nội: Nxb Tài nguyên và Môi trường.

16. Nguyễn Quang. (2018). Quản lý chất thải rắn: Vấn đề nóng của đô thị Việt Nam. Tạp chí Nhịp cầu và Đầu tư, https://nhipcaudautu.vn/song/quan-ly-chat-thai-ran-van-de-nong-cua-do-thi-viet-nam-3326176/.

17. Nguyễn Thế Chinh, L. V. (2016). Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với tăng trưởng xanh. Hà Nội: Tạp chí Môi trường.

18. Parson Michael. (2019). Circular Economy - Doi moi. Ha Noi: Adviser for Minister of Ministry of National Resoures and Environment.

19. Paul Ekins and Nick Hughes. (2016). Resource Efficiency: Potential and Economic Implications Summary for Policymakers. UNEP - International Resource Panel.

20. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa 13. (2014). Luật bảo vệ môi trường. Retrieved from Bộ Tư pháp.

21. The OECD Centre for Entrepreneurship, S. R. (2019). OECD. Retrieved from http://www.oecd.org/regional/regional-policy/circular-economy-cities.htm.

22. Trần Huy Ánh. (2018). Cải thiện quản lý chất thải rắn đô thị rất quan trọng để Đô thị phát triển bền vững. Tạp chí kiến trúc, https://www.tapchikientruc.com.vn/tin-tuc/cai-thien-quan-ly-chat-thai-ran-do-thi-rat-quan-trong-de-do-thi-phat-trien-ben-vung.html.

23. UNEP. (2009). Environmental governance. Narobi, kenya: United Nations Environment Programme (UNEP).

24. William McDonough. (2018). Circular Economy in Cities Evolving the model for a sustainable urban future. Switzerland : World Economic Forum.

25. World Bank. (2019, 3 1). Solid Waste Management. Retrieved from World Bank Web site: https://www.worldbank.org/en/topic/urbandevelopment/brief/solid-waste-management

 

Thêm bình luận


Security code
Đổi mã khác