Ngôn ngữ:
Một số định hướng chiến lược về bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian tới

Nhân loại đang bước sang một thập niên mới của thế kỷ 21 trong bối cảnh chiến tranh thương mại, cạnh tranh nước lớn và cách mạng công nghiệp 4.0. Biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng gia tăng, xu hướng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên tiếp tục tiếp diễn. Ở nước ta, tăng trưởng kinh tế trong vài năm gần đây đạt được kết quả khá cao, xấp xỉ 7%/năm. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện, dự kiến 50% dân số sẽ thuộc diện tầng lớp trung lưu vào năm 2035 (OECD, 2019). Tuy nhiên, ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên và BĐKH gia tăng sẽ vẫn là các thách thức lớn đối với sự phát triển của đất nước. Cùng với cộng đồng quốc tế, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương phát triển nhanh và bền vững với cam kết thực hiện thành công 17 mục tiêu PTBV đến 2030 và Thỏa thuận Pari về BĐKH.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường (BVMT) cho giai đoạn 2021-2030 là hết sức quan trọng và cần thiết. Bài viết này có mục tiêu nhìn nhận lại công tác BVMT thời gian qua và đề xuất một số định hướng cho thời gian tới ở nước ta.

1. Thực trạng công tác BVMT thời gian qua

a) Những kết quả đạt được

Thực hiện Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (ban hành tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/9/2012), công tác BVMT đã đạt được một số kết quả. Nhận thức về BVMT của toàn xã hội đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, Chính phủ xác định không hy sinh môi trường lấy lợi ích tăng trưởng kinh tế. Hệ thống chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy về BVMT tiếp tục được hoàn thiện. Nguồn lực cho BVMT tiếp tục được tăng cường với tổng chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường tăng dần từ 9.772 tỷ đồng năm 2013 (~0,9% chi ngân sách) lên 20.442 tỷ đồng năm 2019 (~1,252% tổng chi ngân sách) (Bộ Tài chính, 2019). Vốn đầu tư phát triển ngành tài nguyên và môi trường được phân bổ tăng từ 550 tỷ đồng năm 2013 lên 1.798 tỷ đồng năm 2018. Hoạt động hợp tác quốc tế về BVMT tiếp tục được đẩy mạnh; trong giai đoạn 2012-2018, đã huy động được 6.915,47 triệu USD hỗ trợ cho BVMT và BĐKH (Bộ KHĐT, 2019).

Về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg đạt 92,71% năm 2018, tăng so với năm 2012 (84,3%). Năm 2019, tỷ lệ KCN, KCX có hệ thống xử lý nước thải tập trung (HTXLNTTT) đạt 89%, tăng so với 2010 (~60%). Tỷ lệ thu gom chất thải rắn (CTR) sinh hoạt đô thị đã tăng lên 86,5% năm 2019 so với 82% năm 2010; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại (CTNH) đã được cải thiện, đạt 75% năm 2018 so với 65% năm 2010; tỷ lệ CTR y tế được phân loại, xử lý đạt trên 98%; đã bước đầu triển khai mạnh mẽ các giải pháp phòng chống chất thải nhựa(Tổng cục MT, 2019 a,b; Bộ Y tế, 2019)

Đã cơ bản xử lý xong ô nhiễm dioxin ở sân bay Đà Nẵng (Bộ Quốc Phòng, 2019). Đến năm 2018, sệ sinh môi trường nông thôn đã được cải thiện với 65,5% số xã đạt tiêu chí về môi trường và an toàn thực phẩm của Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) nông thôn mới; 88,5% số xã có công trình vệ sinh đáp ứng yêu cầu, tăng đáng kể so với 2010 (~52%). Tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch đạt 86%; tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh đạt 94,84% (Bộ NNPTNT, 2019a).

Về khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, đã thực hiện thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước. Tiền thu từ đất đai, cấp quyền khai thác khoáng sản, tài nguyên nước đã tăng lên, đạt hơn 9.354 tỷ đồng năm 2019 (đối với tài nguyên nước) (Bộ TNMT, 2019). Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,65% năm 2018, tăng so với 2012 (39,5%); số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đã giảm so với giai đoạn trước (Bộ NNPTNT, 2019b). Đã tăng thêm 3 khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên trên cạn với diện tích tăng thêm 2.500ha so với 2015; tăng thêm 4 KBT biển so với 2010 với tổng diện tích đạt khoảng 0,11% vùng biển trên cả nước (Tổng cục MT, 2019b).

Về nâng cao năng lực ứng phó với BĐKH, công tác phòng, chống, ứng phó với thiên tai tiếp tục được đẩy mạnh; kịch bản BĐKH và nước biển dâng đã được cập nhật 2 lần năm 2012 và 2016; công tác dự báo khí tượng thủy văn có nhiều tiến bộ. Đã tiết kiệm được 5,65% năng lượng giai đoạn 2011-2015; năng lượng mặt trời có bước phát triển mạnh, đạt 4.500MW năm 2019; nhiều hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) được triển khai thực hiện (Bộ Công Thương, 2019).

b) Những hạn chế, yếu kém

Ô nhiễm, suy thoái môi trường tiếp tục gia tăng.Môi trường không khí ở các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội và TP. HCM, bị ô nhiễm ở một số thời điểm. Vẫn còn hơn 80% cụm công nghiệp (CCN) chưa có HTXLNTTT; 87% nước thải sinh hoạt đô thị chưa được xử lý. CTR sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn; tỷ lệ tái chế còn thấp (8-12%); tỷ lệ chôn lấp hơn 70%, chủ yếu là không hợp vệ sinh; vẫn còn ~36,5% CTR sinh hoạt nông thôn chưa được thu gom, xử lý. Tình trạng đổ trộm CTNH nghiêm trọng vẫn còn xảy ra. Giai đoạn 2012-2019 đã xảy ra nhiều sự cố ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, điển hình như các vụ Formosa Hà Tĩnh (2016), ô nhiễm nguồn của nhà máy nước sông Đà, Hà Nội (2019).

Đa dạng sinh học tiếp tục suy thoái, tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả. Mặc dù độ che phủ tăng song chất lượng rừng tiếp tục suy giảm; tình trạng chặt phá rừng trái phép chưa chấm dứt; nhiều vụ cháy rừng xảy ra trong năm 2019. Các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng như thảm cỏ biển, rạn san hô tiếp tục suy thoái; các loài động thực vật hoang dã tiếp tục suy giảm; nguy cơ từ sinh vật ngoại lai xâm hại và rủi ro từ sinh vật biến đổi gen vẫn còn hiện hữu. Sử dụng đất trong nông nghiệp vẫn còn manh mún; diện tích đất bị thoái hóa tiếp tục tăng 8 triệu ha so với 2010. Công tác bảo vệ an ninh nguồn nước chưa đáp ứng yêu cầu; chưa ngăn chặn được suy giảm nước ngầm và ô nhiễm nước mặt. Vẫn còn tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt là khai thác cát sỏi lòng sông trái phép ở nhiều địa phương. Tình trạng khai thác thủy sản không bền vững chưa chấm dứt; vẫn còn vi phạm về đánh bắt các vùng biển nước ngoài.

Năng lực chủ động ứng phó với BĐKH còn chưa cao. Nhận thức về BĐKH vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; thiệt hại do thiên tai vẫn còn lớn. Việc phổ biến, nhân rộng các mô hình thích nghi, sống chung với BĐKH, phát triển cac-bon thấp còn gặp nhiều khó khăn. Cường độ sử dụng năng lượng sơ cấp còn cao so với thế giới và khu vực, năm 2015 là 20 GJ/USD GDP, trong khi giá trị trung bình của thế giới là 8 GJ/USD, Thái Lan 14,2 GJ/USD, Trung Quốc 13,8 GJ/USD, Malaysia 10,9 GJ/USD, Indonesia 9,6 GJ/USD, Philippin 8,4 GJ/USD... (Cục Điện lực và NLTT và Cục Năng lượng Đan Mạch, 2019). Việc phát triển năng lượng tái tạo còn gặp vướng mắc; thu hồi năng lượng từ chất thải chưa được triển khai mạnh mẽ.

2. Đề xuất một số định hướng chính về BVMT giai đoạn 2021-2030

Trong 10 năm tới, để đạt được mục tiêu PTBV đất nước, cần phải ngăn chặn được xu hướng ô nhiễm, suy thoái,từng bước cải thiện chất lượng môi trường; ngăn chặn sự suy giảm của đa dạng sinh học; nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, thúc đẩy nền kinh tế cac-bon thấp. Để đạt được mục tiêu đó, cần phải tập trung mọt số nhiệm vụ trọng tâm sau:

-Thứ nhất, tiếp tục tăng cường phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, suy thoái môi trường. Cần xây dựng và thực hiện có hiệu quả quy hoạch BVMT quốc gia, đưa các nội dung về tài nguyên môi trường trong quy hoạch vùng, quy hoạch ngành, quy hoạch tỉnh.Thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, cac-bon thấp. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường. Thực hiện việc cấp phép môi trường và phân loại, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, đặc biệt đối với các nguồn gây ô nhiễm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao,kể cả các nguồn xuyên biên giới. Tích cực phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường.

- Thứ hai, tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, từng bước nâng cao chất lượng môi trường. Cần phải kiểm soát, ngăn chặn ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường không khí ở các đô thị lớn. Tăng cường quản lý CTR theo hướng giảm chôn lấp, tăng cường sự tuần hoàn để thu hồi vật liệu và năng lượng; chú trọng CTR nông thôn; phòng ngừa, giảm thiểu và tái chế chất thải nhựa. Xử lý về cơ bản nước thải sinh hoạt ở các đô thị và nâng cao chất lượng môi trường nước. Phục hồi, cải thiện môi trường ở các khu vực ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, dioxin. Tiếp tục cung cấp nước sạch cho nhân dân.

- Thứ ba, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học; khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Tiếp tục bảo tồn, gìn giữ, phục hồi các hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên; nâng cao độ che phủ rừng, ngăn chặn suy giảm chất lượng rừng. Bảo vệ các giống loài, nguồn gien và bảo đảm an toàn sinh học. Khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và nguồn lợi thủy sản.

- Thứ tư, chủ động thích ứng với BĐKH trong BVMT và giảm phát thải KNK. Lồng ghép BĐKH trong trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư về BVMT; tăng cường thích ứng với BĐKH dựa trên hệ sinh thái. Thực hiện giảm phát thải KNK kết hợp với các hoạt động kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí; thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sạch, các phương tiện dùng điện trong giao thông vận tải; thu hồi năng lượng từ CTR.

Để thực hiện thành công các định hướng nêu trên, cần thực hiện một số giải pháp chủ chốt sau:

- Thứ nhất, cần thay đổi tư duy, nhận thức về phát triển. Trong hơn 30 năm qua, thông qua quá trình công nghiệp hóa, đất nước ta đã tập trung ưu tiên tăng trưởng kinh tế để thoát khỏi đói nghèo. Kèm theo các kết quả về tăng trưởng kinh tế là môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, hiện đã đến ngưỡng tới hạn. Trong 10 năm tới, cần phải bảo đảm phát triển trong giới hạn của sự cân bằng sinh thái, phát triển hài hòa với tự nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên, hạn chế tối đa tác động xấu đến môi trường. Tư duy này phải được nhận thức và quán triệt thành hành động từ các cơ quan quản lý đến từng doanh nghiệp và mỗi người dân.

- Thứ hai, cần phải tăng cường thực thi pháp luật về BVMT. Nâng cao các biện pháp chế tài, xử phạt vi phạm hành chính, hình sự. Tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý môi trường cấp vùng, cấp tỉnh, huyện và xã. Thực hiện phương châm hướng về địa phương, hướng về cơ sở; tăng cường sự giám sát của các tổ chức chính trị xã hội và cộng đồng dân cư trong BVMT.

- Thứ ba, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp để đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho BVMT. Tạo lập cơ chế, chính sách, phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ môi trường kết hợp với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch để thu hút sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng vào BVMT. Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho BVMT; nâng cao tính hiệu quả của các quỹ BVMT; hoàn thiện khung pháp lý và thúc đẩy đầu tư cho các dự án xanh thông qua tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Thu hút nguồn lực đầu tư từ các định chế tài chính quốc tế, các nước phát triển cho BVMT./.

 

Nguyễn Trung Thắng, Hoàng Hồng Hạnh, Vũ Thị Thanh Nga, Nguyễn Ngọc Tú
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường
(Bài viết được đăng trên Tạp chí Môi trường số 1/2020)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường - TNMT, 2019, Báo cáo Tổng kết công tác năm 2019 và triển khai nhiệm vụ năm 2020 của ngành tài nguyên và môi trường.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - KHĐT, 2019, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến 2020.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - NNPTNT, 2019a, Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện CTMTQG xây dựng nông thôn mới.

4. Bộ NNPTNT, 2019b, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến 2020.

5. Bộ Tài chính, 2019, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến 2020.

6. Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo - NLTT và Cục Năng lượng Đan Mạch, 2019, Báo cáo triển vọng năng lượng Việt Nam.

7. OECD, 2019, Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều đối với Việt Nam.

8. Tổng cục Môi trường - MT, 2019a, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến 2020.

9. Tổng cục Môi trường - MT, 2019b, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đến 2020.

 

 

 

 

 

Thêm bình luận


Security code
Đổi mã khác