Tiêu điểm



Nội dung hoạt động chính

 

 

 

 

 

 

Tuyển dụng

 

Tuyển chuyên gia dự án


 

 

Đăng nhập trang nội bộ



Tình hình sản xuất sinh vật biến đổi gen trên thế giới và quan điểm của các nước thuộc Liên minh châu Âu
Thứ sáu, 23 Tháng 10 2009 16:51

Sinh vật biến đổi gen (Genetically Modified Organism - GMO) là những sinh vật được thay đổi vật liệu di truyền (ADN) bằng công nghệ sinh học hiện đại, hay còn gọi là công nghệ gen. GMO đã xuất hiện hơn 2 thập kỷ nay.

Việc thử nghiệm ngoài đồng đầu tiên là cây thuốc lá biến đổi gen kháng thuốc diệt cỏ, được tiến hành ở Mỹ và Pháp vào năm 1986. Cây trồng biến đổi gen được bắt đầu trồng thương mại đại trà từ năm 1996. Tuy nhiên, đến nay, các sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen (thực phẩm biến đổi gen) đang là cuộc tranh luận toàn cầu về những nguy cơ tiềm tàng của chúng để đi tới những giải pháp bảo đảm an toàn cho cây trồng biến đổi gen.

 

Trong khi Hoa Kỳ, Canađa và các nước đang phát triển tại châu Phi, châu Mỹ Latinh, châu Á ủng hộ việc sử dụng cây trồng biến đổi gen (Genetically Modified Crop - GMC) thì châu Âu lại rất dè dặt cấp phép cho việc gieo trồng GMC cũng như lưu hành thực phẩm có nguồn gốc từ GMC trên thị trường.
Các nhà khoa học trên thế giới tỏ ra e ngại khả năng gây dị ứng, làm nhờn kháng sinh, có thể tạo ra độc tố và gây độc cho cơ thể lâu dài mà thực phẩm biến đổi gen gây ra. Ở Liên minh châu Âu (EU), trừ Ba Lan và một số nước, hầu hết các thành viên còn lại đều không nhập thực phẩm biến đổi gen. Còn ở Ấn Độ, nước đã cho phép trồng GMC, nhưng đến nay vẫn còn rất nhiều ý kiến tranh cãi.

Để có cơ sở phân tích, đánh giá lợi, hại của GMO, giúp các nhà hoạch định chính sách định hướng phát triển an toàn sinh học đối với GMO, cần phải xem xét, đánh giá những lợi ích, tác hại tiềm tàng của GMO, hiện trạng và xu hướng phát triển và sử dụng GMO cũng như những chính sách quản lý chúng ở các nước, đặc biệt là EU.

1. Những lợi ích của cây trồng biến đổi gen
Cây trồng biến đổi gen đã có những đóng góp tích cực cho quá trình phát triển bền vững qua các lĩnh vực sau:

·    Đảm bảo an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới

GMC có thể giúp ổn định tình hình an ninh lương thực và hạ giá thành lương thực trên thế giới, bằng cách làm tăng nguồn cung lương thực, đồng thời làm giảm chi phí sản xuất, từ đó làm giảm lượng nhiên liệu đốt cần sử dụng trong các hoạt động nông nghiệp, giảm bớt một số tác động bất lợi gắn với sự biến đổi khí hậu. Trong số 44 tỷ USD lợi nhuận tăng thêm nhờ công nghệ sinh học, có 44% lợi nhuận từ việc tăng năng suất cây trồng, 56% lợi nhuận từ giảm chi phí sản xuất.

Hướng nghiên cứu mới đối với cây lương thực là phát triển khả năng chịu hạn; các giống cây lương thực mới dự đoán sẽ được trồng ở Hoa Kỳ năm 2012, ở tiểu vùng Sahara thuộc châu Phi năm 2017.

·    Bảo tồn đa dạng sinh học

GMC có lợi tiềm tàng đối với môi trường. GMC giúp bảo tồn các nguồn lợi tự nhiên, sinh cảnh và động, thực vật bản địa. Thêm vào đó, GMC góp phần giảm xói mòn đất, cải thiện chất lượng nước, cải thiện rừng và nơi cư trú của động vật hoang dã.

Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp là giải pháp giúp bảo tồn đất trồng, cho phép tăng sản lượng thu hoạch cây trồng trên 1,5 tỷ ha đất trồng hiện có, xoá bỏ tình trạng phá rừng làm nông nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học tại các cánh rừng và khu bảo tồn trên khắp thế giới. Theo ước tính, hàng năm các nước đang phát triển mất khoảng 13 triệu ha rừng vì các hoạt động nông nghiệp. Từ năm 1996 đến 2007, GMC đã bảo vệ 43 triệu ha đất trên thế giới, có tiềm năng rất lớn trong tương lai.

·    Góp phần xoá đói giảm nghèo

50% những người nghèo nhất trên thế giới là người nông dân ở các nước đang phát triển, nghèo tài nguyên, 20% còn lại là những người nông dân không có đất trồng, phụ thuộc hoàn toàn vào nghề nông.Vì thế, tăng thu nhập cho người nông dân nghèo sẽ đóng góp trực tiếp vào quá trình xoá đói giảm nghèo trên thế giới, tác động trực tiếp đến 70% người nghèo trên toàn thế giới.

Tính đến thời điểm hiện tại, các giống bông và ngô biến đổi gen đã mang lại lợi nhuận cho hơn 12 triệu nông dân nghèo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi, Philippin và số người hưởng lợi sẽ cao hơn trong thập niên thứ hai này. Trong đó việc tập trung phát triển các giống gạo biến đổi gen có thể mang lại lợi nhuận cho khoảng 250 triệu hộ nông dân nghèo canh tác lúa ở châu Á.

·    Giảm tác hại của các hoạt động nông nghiệp đối với môi trường

Hoạt động nông nghiệp truyền thống của con người có tác động rất lớn với môi trường. Sử dụng công nghệ sinh học, có thể giảm đáng kể các tác hại đó. Trong thập niên đầu tiên ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tiên tiến này đã giúp giảm lượng lớn thuốc trừ sâu, giảm lượng xăng dầu cần sử dụng trong các hoạt động nông nghiệp, giảm lượng khí CO2 thải ra môi trường do cày xới đất, bảo tồn đất và độ ẩm nhờ phương pháp canh tác không cần cày xới, giúp đất trồng hấp thu được một lượng lớn khí CO2 từ không khí. Tổng lượng thuốc trừ sâu cắt giảm trong khoảng thời gian từ 1996 đến 2007 ước tính đạt 359 ngàn tấn thành phần kích hoạt (a.i.), tương ứng với 9% lượng thuốc trừ sâu cần sử dụng, làm giảm 17,2% các tác hại đối với môi trường, tính theo chỉ  số tác hại môi trường (EIQ). Trong năm 2007, công nghệ sinh học đã làm giảm 77.000 tấn thuốc trừ sâu sử dụng trong nông nghiệp (tương đương với 18% lượng thuốc trừ sâu sử  dụng), chỉ  số EIQ giảm 29% (Brooks và Barfoot, 2009).

·    Giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (GHG)

GMC có thể giúp giải quyết những lo ngại lớn nhất về môi trường: giảm thiểu các loại  khí gây hiệu ứng nhà kính, giảm thiểu tác động của thay đổi thời tiết. Thứ nhất, giảm lượng khí CO2, làm giảm lượng nhiên liệu hoá thạch, giảm lượng thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ. Theo đánh giá, GMC đã làm giảm khoảng 1,1 tỷ kg khí CO2 thải ra từ các hoạt động nông nghiệp, tương đương với cắt giảm 500 ngàn xe ôtô lưu thông trên đường. Thứ hai, phương pháp canh tác không cần cày xới nhờ công nghệ sinh học làm giảm thêm 13,1 tỷ kg khí CO2, tương đương với giảm 5,8 triệu xe ôtô lưu hành trên đường. Như vậy, trong năm 2007, tổng lượng khí CO2 mà công nghệ sinh học làm giảm trên toàn thế giới đạt mức 14,2 tỷ kg, tương đương với loại bỏ 6,3 triệu xe ôtô (Brooks và Barfoot, 2009).

·    Tăng hiệu quả sản xuất nhiên liệu sinh học

Công nghệ sinh học có thể giúp tối ưu hoá chi phí sản xuất nhiên liệu sinh học thế hệ thứ nhất và thứ hai, nhờ tạo ra các giống cây chịu tác động của môi trường (khô hạn, nhiễm mặn, nhiệt độ khắc nghiệt…) hoặc các tác động của sinh vật (sâu bệnh, cỏ dại…), nâng cao năng suất thu hoạch của cây trồng, bằng việc thay đổi cơ chế trao đổi chất của cây. Sử dụng công nghệ sinh học, các nhà khoa học cũng có thể tạo ra những enzym đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của nguyên liệu sản xuất thành nhiên liệu sinh học.

·    Góp phần ổn định các lợi ích kinh tế

Khảo sát gần đây nhất về tác động của GMC trên toàn cầu từ  năm 1996 đến 2007 (Brooks và Barfoot, 2009) cho thấy lợi nhuận mà GMC mang lại cho riêng những người nông dân trồng chúng trong năm 2007 đạt 10 tỷ USD (6 tỷ USD ở các nước đang phát triển, 4 tỷ USD ở các nước công nghiệp). Tổng lợi nhuận trong giai đoạn 1996 - 2007 đạt 44 tỷ USD, từ các nước đang phát triển và nước công nghiệp.

2. Những tác hại tiềm tàng của cây trồng biến đổi gen

Những mối tác hại tiềm tàng của cây trồng biến đổi gen thể hiện ở những khía cạnh sau:

·    Đối với sức khỏe con người

Bên cạnh những lợi ích cơ bản của GMO, theo nhiều nhà khoa học thế giới, thì loại thực phẩm này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe cộng đồng, như khả năng gây dị ứng, làm nhờn kháng sinh, có thể tạo ra độc tố và gây độc lâu dài cho cơ thể, v.v... Đây là một trong những tranh luận chủ yếu và vấn đề chỉ được tháo gỡ khi chứng tỏ được rằng sản phẩm protein có được từ sự chuyển đổi gen không phải là chất gây dị ứng.
Gen kháng sinh có thể được chuyển vào các cơ thể vi sinh vật trong ruột của người và động vật ăn thành phẩm biến đổi gen. Điều này có thể dẫn tới việc tạo ra các vi sinh vật gây bệnh có khả năng kháng thuốc. Việc chuyển đổi gen từ thực phẩm biến đổi gen vào tế bào cơ thể con người hay vào vi trùng trong đường ruột cơ thể người là mối quan tâm thực sự, nếu như sự chuyển đổi này tác động xấu tới sức khỏe con người.

·    Đối với đa dạng sinh học

Nguy cơ GMC có thể phát tán những gen biến đổi sang họ hàng hoang dã của chúng, sang sâu bệnh có nguy cơ làm tăng tính kháng của chúng đối với đặc tính chống chịu sâu bệnh, thuốc diệt cỏ hoặc làm tăng khả năng gây độc của GMC đối với những loài sinh vật có ích.

Dưới sức ép của chọn lọc tự nhiên, côn trùng sẽ trở lên kháng các loại thuốc diệt côn trùng do cây trồng tạo ra và gây thiệt hại cho cây trồng. Giải pháp GMC không bền vững cho một số vấn đề như kháng sâu bệnh, vì các loại dịch hại này có thể tái xuất hiện do bản chất di truyền thích ứng với môi trường của chúng.

Cây trồng kháng sâu có khả năng tiêu diệt các loại côn trùng hữu ích khác như ong, bướm, v.v... làm ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn tự nhiên, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học nói chung. Việc trồng GMC đại trà, tương tự như việc phổ biến rộng rãi một số giống năng suất cao trên diện tích rộng lớn, sẽ làm mất đi bản chất đa dạng sinh học của vùng sinh thái, ảnh hưởng đến chu trình nitơ và hệ sinh thái của vi sinh vật đất.

·    Đối với môi trường

Nguy cơ đầu tiên là việc GMC mang các yếu tố chọn lọc (chịu lạnh, hạn, mặn hay kháng sâu bệnh…) phát triển tràn lan trong quần thể thực vật. Điều này làm mất cân bằng hệ sinh thái và làm giảm tính đa dạng sinh học của loài cây được chuyển gen.

Nguy cơ thứ hai là việc GMC mang các gen kháng thuốc diệt cỏ có thể thụ phấn với các cây dại cùng loài hay có họ hàng gần gũi, làm lây lan gen kháng thuốc diệt cỏ trong quần thể thực vật. Việc gieo trồng GMC kháng sâu bệnh trên diện rộng, ví dụ, kháng sâu đục thân, có thể làm phát sinh các loại sâu đục thân mới kháng các loại GMC này. Việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học Bt đã cho phép phòng trừ hiệu quả sâu bệnh, nhưng sau 30 năm sử dụng, một số loại sâu bệnh đã trở nên nhờn thuốc ở một vài nơi.

Nguy cơ cuối cùng là việc chuyển gen từ cây trồng vào các vi khuẩn trong đất. Tuy nhiên, khả năng xảy ra điều này là vô cùng nhỏ.

Hiện nay, các chuyên gia công nghệ sinh học đang cố gắng giảm thiểu các rủi ro nêu trên và theo dõi cẩn thận các thử nghiệm GMC trong phòng thí nghiệm, cũng như ngoài đồng ruộng trước khi đưa ra thị trường thương mại.

Nói tóm lại, nếu được thiết kế và sử dụng đúng phương pháp, thì có thể quản lý đựợc các nguy cơ của GMC đối với môi trường một cách hiệu quả.

3. Hiện trạng và xu hướng phát triển cây trồng biến đổi gen trên thế giới

Công nghệ sinh học đã có những bước tiến nhảy vọt góp phần mang lại những thành tựu to lớn cho loài người. Trong 13 năm, từ 1996 đến 2008, số nước trồng GMC đã lên tới con số 25 - một mốc lịch sử - một làn sóng mới về việc đưa GMC vào canh tác, góp phần vào sự tăng trưởng rộng khắp toàn cầu và gia tăng đáng kể tổng diện tích trồng GMC trên toàn thế giới lên 73,5 lần (từ 1,7 triệu ha năm 1996 lên 125 triệu ha năm 2008). Trong năm 2008, tổng diện tích đất trồng GMC trên toàn thế giới từ trước tới nay đã đạt 800 triệu ha. Năm 2008, số nước đang phát triển canh tác GMC đã vượt số nước phát triển trồng loại cây này (15 nước đang phát triển so với 10 nước công nghiệp), dự đoán xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới nâng tổng số nước trồng GMC lên 40 vào năm 2015.


Mặc dù, diện tích đất trồng và số nước trồng GMC tăng lên dữ dội trên toàn cầu, đặc biệt là các nước thuộc EU. Tuy nhiên, việc sử dụng GMO và sản phẩm của chúng ở EU đang dè dặt và rất thận trọng ở các quốc gia này.

4. Chính sách quản lý sinh vật biến đổi gen ở EU

Quan điểm chung của các nước EU về GMO là hòa nhập vào cách tiếp cận chung đối với an toàn thực phẩm. Nguyên tắc cơ bản là không cấm việc lưu thông sản phẩm trên thị trường, tuy nhiên các sản phẩm lưu thông phải bảo đảm các tiêu chuẩn cao về kiểm soát và an toàn.

Chính sách quản lý sinh vật biến đổi gen ở EU nhằm mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người và môi trường; và quy định sự an toàn đối với việc lưu thông sản phẩm biến đổi gen trong các nước EU.

Các GMO, trước khi đưa ra thị trường cần phải được cấp phép. Việc cấp phép áp dụng cho các GMO được sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và cả hạt giống. Năm 2004, khung pháp lý mới, được sửa đổi về cơ bản có hiệu lực cho tất cả các nước thành viên của EU. Nguyên tắc cơ bản của các chính sách ở EU là các tiêu chuẩn tuyệt đối an toàn và tự do lựa chọn của người tiêu dùng và nông dân.

Năm chính sách cơ bản được xây dựng và áp dụng:

·    Chỉ thị về việc giải phóng thận trọng GMO ra môi trường (2001/18)

Chỉ thị có hiệu lực từ ngày 17/4/2001, quy định về việc sử dụng thương mại GMC; giải phóng ra môi trường gồm cả phát triển cây trồng hoặc nhập khẩu vật liệu di truyền. Yêu cầu của Chỉ thị:

- Về an toàn: không có tác hại đối với sức khỏe con người hoặc tác động xấu đối với môi trường (đánh giá tác động môi trường);

- Về cấp phép: đánh giá an toàn dựa trên cơ sở khoa học; tiêu chuẩn hóa các phương pháp để phát hiện GMO; và giám sát.

·    Quy chế về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi từ cây trồng biến đổi gen (1829/2003 ngày 22/9/2003)

Quy chế có hiệu lực từ ngày 19/4/2004, quy định về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc hoặc chứa GMC. Yêu cầu của Quy chế:

- Về an toàn: không có tác hại đối với sức khỏe con người hoặc động vật hoặc tác động xấu đối với môi trường;

- Về cấp phép: đánh giá an toàn dựa trên cơ sở khoa học: thực phẩm biến đổi gen phải được an toàn như thực phẩm truyền thống; dán nhãn; phương pháp phát hiện; và giám sát sau khi đưa ra thị trường.

·    Quy chế về truy nguyên nguồn gốc và dán nhãn đối với GMO và truy nguyên nguồn gốc của thực phẩm và thức ăn chăn nuôi từ GMO (1830/2003 ngày 22/9/2003)

Theo Quy chế này, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi có chứa GMO trên 0.9% phải được dán nhãn.

·    Quy chế về xây dựng hệ thống mã hóa nhận biết đặc biệt đối với GMO (65/2004 ngày 14/1/2004)

·    Hướng dẫn thực hiện Quy chế số 1829/2003 đối với việc phê chuẩn loại  thực phẩm, thức ăn chăn nuôi mới và việc công bố các sản phẩm đang lưu thông trên thị trường (641/2004 ngày 06/4/2004).

Như vậy, chính sách về GMO của EU tập trung các quy định về quản lý an toàn GMO đối với sức khỏe con người, động vật; đa dạng sinh học và môi trường.

5. Thực trạng sử dụng thực phẩm biến đổi gen ở EU

Chính phủ các nước EU cho rằng, trong khi chưa có các bằng chứng xác định về tính an toàn của các GMO, tạm thời cấm trồng cây và nuôi gia súc biến đổi gen trên lãnh thổ châu Âu. Mức độ phản ứng của các Chính phủ EU rất khác nhau. Một số nước châu Âu đã có quy định cho các sản phẩm biến đổi gen.

Một cuộc điều tra năm 2002 cho thấy, 97% người tiêu dùng châu Âu mong muốn các sản phẩm biến đổi gen được dán nhãn rõ ràng, 80% hoàn toàn không thích sản phẩm biến đổi gen.

Tuy nhiên, sau khi 133 nước đã thông qua Nghị định thư Cartagena, đã xuất hiện một số xu hướng tích cực trong việc phát triển và thương mại cây trồng và sản phẩm biến đổi gen. Các nước đều nhất trí là không sử dụng các gen kháng sinh làm các chỉ thị chọn lọc cho GMC. Các nước châu Âu cuối cùng đã đồng ý nhập khẩu sản phẩm biến đổi gen của Hoa Kỳ, với điều kiện tất cả các sản phẩm này phải được dán nhãn. Theo các nước châu Âu, người tiêu dùng có toàn quyền lựa chọn xem có nên mua sản phẩm biến đổi gen hay không, và do đó các sản phẩm biến đổi gen phải được dán nhãn.

Từ ngày 9/12/2002, các nước thành viên EU đã đưa ra Quy định mới về thực phẩm biến đổi gen, yêu cầu các thực phẩm biến đổi gen phải được dán nhãn mang mã số riêng để có thể truy nguyên nguồn gốc và đưa ra khỏi các cửa hàng trong trường hợp có vấn đề. Trước đó, các Bộ trưởng nông nghiệp EU đã nhất trí quy định, các sản phẩm có thành phần biến đổi gen dưới 0.9% không bị coi là thực phẩm biến đổi gen và không cần phải dán nhãn.

Như vậy, quan điểm của các khối (nhất là giữa châu Âu và Hoa Kỳ) đã xích lại gần nhau một cách đáng kể. Việc này sẽ thúc đẩy các nghiên cứu công nghệ sinh học và triển khai GMC lên một tầm cao mới. Các nhà khoa học, nhất là các công ty công nghệ sinh học sẽ phải tuân theo một pháp chế nghiêm ngặt khi tiến hành thử nghiệm và triển khai GMC, có nghĩa là cần phải có thời gian nhất định để phát triển và bổ sung trước khi chấp nhận GMC là sản phẩm hàng hóa.

Tuy vậy, việc sử dụng GMO ở các nước EU vẫn là vấn đề gây tranh cãi. Ủy ban châu Âu cùng với các viện, cơ quan quốc gia đã tiến hành các cuộc thăm dò ý kiến người tiêu dùng hàng năm để tìm hiểu ý kiến đại diện và xác định khuynh hướng và các chỉ số chung. Phần lớn người tiêu dùng vẫn còn ngần ngại về GMO, tuy nhiên vẫn chấp nhận việc nghiên cứu và canh tác các GMC. Những cuộc thăm dò gần đây cho thấy, thái độ người tiêu dùng đã thay đổi, khoảng một nửa người tiêu dùng đã chấp nhận GMO, đặc biệt là khi lợi ích của người tiêu dùng và môi trường có thể liên kết với sản phẩm GMO.

Năm 2007, 80% người được phỏng vấn đã không phê phán việc sử dụng GMO trong nông nghiệp vì lợi ích môi trường. Nhiều người tiêu dùng dường như không còn lo ngại đến rủi ro tiềm tàng của GMO đối với sức khỏe và không chủ động lảng tránh các sản phẩm GMO trong khi mua bán.

Một cuộc thăm dò ý kiến của các nước EU về việc sử dụng sản phẩm GMO được tiến hành vào tháng 11-12/2007 được thể hiện như sau:

Theo cuộc điều tra này cho thấy, phần lớn người châu Âu tuyên bố phản đối việc sử dụng GMO (58%), trong khi có khoảng 21% ủng hộ, còn khoảng trên 9% nói rằng họ chưa bao giờ nghe nói về GMO. Mức độ phản đối GMO khác nhau ở các nước. Nước phản đối mãnh mẽ nhất là Slovenia (82%), Cyprus (81%). Nước ủng hộ cao nhất là Malta và Bồ Đào Nha (28%).

Việc phân tích thành công nhất của cuộc thăm dò này là tìm hiểu được các ý kiến phản đối hay ủng hộ có liên quan đến mối quan tâm của dân chúng hoặc thiếu thông tin về việc sử dụng GMO như sau:

6. Một số kiến nghị về việc quản lý sinh vật biến đổi gen ở Việt Nam

Mặc dù, công nghệ sinh học là công cụ hữu hiệu đã tạo ra các GMO để giải quyết các vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội, đặc biệt là trong nông nghiệp và an ninh lương thực. Tuy nhiên, để tiếp nhận và triển khai một cách hiệu quả, bảo đảm an toàn về sức khoẻ, môi trường và xã hội trong khi tính an toàn của sản phẩm biến đổi gen còn chưa rõ ràng, thì việc quản lý chặt chẽ được xem là một giải pháp bắt buộc. Một GMO trước khi được thương mại hoặc sử dụng là thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi cần phải được cấp phép với các điều kiện sau đây:

·    Đánh giá an toàn:

Sản phẩm GMO phải an toàn đối với sức khỏe con người, động vật và đa dạng sinh học, môi trường; đánh giá an toàn cần dựa trên cơ sở khoa học và cần sử dụng các phương pháp đánh giá an toàn thích hợp nhất.

·    Dán nhãn:

Đây là một công cụ quan trọng nhất để bảo đảm quyền tự do lựa chọn sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng. Quy định về ghi nhãn phải nhất quán, chặt chẽ và rõ ràng. Ngưỡng quy định là cần thiết đối với sản phẩm và hàng hóa. Tuy nhiên, việc dán nhãn phải được lập kế hoạch có xem xét đến tính khả thi, trách nhiệm pháp lý, tính chặt chẽ và tiêu chuẩn hóa.

·    Truy nguyên nguồn gốc:

Xuất phát từ quyền lợi người tiêu dùng, việc dán nhãn là cần thiết, dù thành phần biến đổi gen không thể nhận thấy trong thành phẩm. Vì vậy, tất cả các nhà sản xuất, cung cấp và thương nhân phải thông báo cho người mua về sản phẩm, hàng hóa của họ liệu có chứa GMO hay không. Để làm được điều này, các đối tác phải thiết lập hệ thống lưu giữ và chia sẻ thông tin và tài liệu. Trách nhiệm của các đối tác là lưu giữ hồ sơ và có khả năng truy nguyên nguồn gốc.

Để thực hiện được các yêu cầu trên đây, Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen. Mặc dù, Luật Đa dạng sinh học 2008 đã quy định khung về tránh nhiệm quản lý GMO, tuy nhiên Nghị định sẽ là công cụ pháp lý hướng dẫn cụ thể các quy trình, thủ tục quản lý an toàn sinh học đối với GMO, mẫu vật di truyền và sản phẩm của chúng. Ngoài ra, một số văn bản hướng dẫn kỹ thuật chuyên ngành cũng cần sớm ban hành để quản lý một cách toàn diện.

Hơn nữa, Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho công nghệ sinh học hiện đại nói chung và quản lý an toàn sinh học GMO nói riêng nhằm:

- Xây dựng hệ thống và các phương pháp phát hiện sản phẩm GMO; xây dựng phòng xét nghiệm phân tích nguy cơ tiềm tàng của loại sản phẩm này;

- Xây dựng cơ sở dữ liệu và cơ chế chia sẻ thông tin về GMO. Hệ thống truy nguyên nguồn gốc GMO;

- Thanh tra, kiểm soát, giám sát chặt chẽ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu và sử dụng GMO. Đặc biệt là biện pháp giám sát các sản phẩm biến đổi gen sau khi tung ra thị trường cần được tiếp tục theo dõi về độ an tòan của sản phẩm;

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng các cấp về thông tin và sự hiểu biết về GMO./.


Huỳnh Thị Mai
Ban Quản lý Tài nguyên và Đa dạng sinh học
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường