Ngôn ngữ:
Lời nguyền tài nguyên liệu có tránh được?
Thứ năm, 27 Tháng 5 2010 16:19

Lời nguyền tài nguyên là có thật, thế nhưng nó không phải là tất yếu của một nước có tài nguyên, mà phụ thuộc vào mỗi quốc gia làm gì để tránh bẫy tài nguyên này.

Phần trước: Lời nguyền tài nguyên hay hệ quả của nền quản trị kém?

Đều dựa vào việc chiết rút dầu mỏ, nhưng Nigeria và Indonesia lại ở hai thế cực đối lập trong việc ứng phó để tránh lời nguyền tài nguyên.

Nigeria: Kẻ thua cuộc

Trên rất nhiều khía cạnh, Nigeria thể hiện như là một ví dụ điển hình về lời nguyền tài nguyên. Từ năm 1965 đến 2000, nguồn thu thực tế sau chi phí của chính phủ từ dầu mỏ từ các công ty là khoảng 350 triệu đô la (tại thời điểm giá năm 1995) hay 10 tỉ đô la trong suốt 35 năm dòng. Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người (theo sức mua tương đương) lại giảm từ 1.113 đô la vào các năm 1970 tới 1.084 đô la vào năm 2000. Điều này dẫn tới việc Nigeria trở thành một trong 15 nước nghèo nhất thế giới.

Nguồn thu từ dầu mỏ trên bình quân đầu người là 33 đô la, trên GDP đầu người là 245 đô la vào năm 1965; vào năm 2000 thì nguồn thu này tăng thành 350 đô la trên đầu người và trên GDP gần như giống vào năm 1965.

Hơn nữa, tỷ lệ nghèo đói (phần trăm dân số sống dưới 1 đô la/ngày) đã tăng từ 36% năm 1970 lên tới gần 70% vào năm 2000 (từ 19 tới 90 triệu người). Chênh lệch giàu nghèo cũng tăng đáng kể.

Trong năm 1970, phần thu nhập của giới thượng lưu (chiếm 2% dân số) bằng với giới cùng khổ (chiếm 17%), nhưng vào năm 2000 thì thu nhập của giới thượng lưu bằng toàn bộ 55% phần nghèo khổ nhất. Rõ ràng Nigeria là một trường hợp điển hình. Các sản phẩm dầu mỏ chiếm tới 80% nguồn thu của chính phủ, 95% tổng thu từ xuất khẩu và 90% ngoại tệ kiếm được (Watts, 2004). Nigeria không chỉ là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, mà còn là một quốc gia có nền kinh tế đơn ngành như Michael Matts (2004) đã đề cập.

 

Ảnh: New York Times.

Những gì đã xảy ra ở Nigeria đã thể hiện khá tốt lời nguyền tài nguyên xảy ra như thế nào và tại sao trong thực tế.

Khởi đầu những năm cuối của thập kỷ 60, Nigeria đã nếm phải căn bệnh Hà Lan qua việc bùng nổ xuất khẩu dầu mỏ. Lực lượng lao động di chuyển từ các vùng nông thôn ra thành thị đã dẫn tới sự sụt giảm về sản lượng lương thực và kéo theo giá cả lương thực - thực phẩm tăng cao. Tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trên GDP giảm từ 68% vào năm 1965 xuống 35% vào năm 1981. Sự sụt giảm này đặc biệt ở các cây công nghiệp như cô ca, dầu cọ và cao su với sự sụt giảm lên tới 75% trong giai đoạn từ năm 1970 đến 1981.

Trong khi đó, ngành dịch vụ đã tăng nhanh chóng, đặc biệt là dịch vụ công quyền tăng tới 16% và sản ngành sản xuất, chế tạo (ngành được chính phủ đầu tư lớn) tăng 8% trong cùng giai đoạn. Do sự tham gia của chính phủ trong ngành sản xuất, chế tạo, nên ngành này hầu như được bảo hộ.

Nguồn thu từ dầu mỏ dùng để xây dựng khu liên hiệp thép Ajakouta nổi tiếng, nơi mà chưa bao giờ sản xuất nổi một tấn thép nào. Do đó, năng lực tận dụng vốn trong ngành sản xuất, chế tạo giảm từ 77% vào năm 1975 tới 50% vào năm 1983 và sau đó là 35% đã nhắc nhở rằng 2/3 đầu tư của chính phủ trong ngành chế tạo và sản xuất là lãng phí.

Các số liệu này gợi ý rằng vấn đề chủ yếu trong nền kinh tế của Niregia là không chỉ giảm mạnh trong nông nghiệp mà còn tăng kích cỡ của bộ máy chính phủ.

Nhìn một cách riêng biệt, chính phủ đầu tư quá mức cho cơ sở hạ tầng. Tích lũy vốn vật chất đã tăng từ 6,7%/năm từ năm 1965, trong khi tổng các nhân tố sản xuất đã tăng trưởng -1.2%. Chi tiêu của khối công trong tổng vốn cũng đã tăng từ 20% tới 55% từ những năm của thập kỷ 60 tới cơn sốc dầu mỏ lần thứ 2 vào năm 1980.

Các đầu tư về cơ sở vật chất công cộng đã phổ biến trong chính quyền như là dưới dạng các phần thưởng chính trị và lại quả cho các công chức.

Bevan & cộng sự (1998) khéo léo tóm tắt trường hợp của Nigeria như sau "kết hợp này của một thúc đẩy chính trị tới đầu tư công và một sự thiếu hụt của kỹ năng dịch vụ dân sự tạo ra lịch sử kinh tế quá hào nhoáng của Nigeria trong giai đoạn này: hầu hết toàn bộ nguồn thu đột ngột đã được đầu tư, và chẳng có cái gì để chỉ ra nó ở đâu".

Indonesia tránh lời nguyền tài nguyên

Không giống như Nigeria, Indonesia là quốc gia đã tránh được "Lời nguyền tài nguyên" bằng những quy định, chính sách rõ ràng.

 

Ảnh: allianz.com

Là một nền kinh tế dồi dào tài nguyên, Indonesia đã quản lý để duy trì chặt chẽ và phù hợp cho tăng trưởng kinh tế từ những năm 1970. Một cái nhìn ngắn gọn là Indonesia đã làm thế nào quản lý tốt nguồn tài nguyên dầu mỏ. Đây cũng bài học hữu ích cho các quốc gia khác trong việc tránh hoặc giảm nhẹ hậu quả của "Lời nguyền tài nguyên". Những bài học này làm nổi bật vai trò của chính sách tài chính bảo thủ và tái đầu tư nguồn thu từ dầu mỏ vào các ngành thương mại khác.

Đối chiếu với Mexico, nước trải qua ảnh hưởng của lời nguyền tài nguyên về hành xử của Indonesia trong ba lĩnh vực chính, cụ thể là các phản ứng tài chính, vốn vay nước ngoài và phá giá đồng tiền để nhìn rõ bí quyết thành công của Indonesia.

Về các phản ứng tài chính: Indonesia xử lý các nguồn thu từ dầu mỏ thông qua một cam kết "Nguyên tắc ngân sách cân bằng". Kết quả là nước này đã đạt được tỷ lệ thâm hụt ngân sách vào GDP rất nhỏ trong những năm 1970 và 1980.

Chính phủ thậm chí đã thực hiện một số "thủ tục tinh tế" là chuyển ngân quỹ tích lũy dư thừa sang tiền gửi chính phủ.

Trong khi đó, chính phủ Mexico nhanh chóng mở rộng chi tiêu ngân sách trong thời gian bùng nổ dầu mỏ nhằm thực hiện chương trình phát triển đầy tham vọng.

Chính phủ Indonesia cũng theo đuổi việc cân đối thu chi giữa các ngành, đầu tư khá cân bằng cho cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nông nghiệp và công nghiệp. Đặc biệt là nguồn thu từ dầu mỏ đầu tư phần lớn vào nông nghiệp và công nghiệp với ưu tiên nhiều hơn cho phát triển nông nghiệp (ví dụ: sản xuất gạo, nghiên cứu và khuyến nông, đầu tư thủy lợi, và trợ cấp phân bón).

Kết quả là Indonesia đầu tư một phần lớn các khoản thu từ dầu mỏ cho nguồn vốn chi tiêu hơn là chi tiêu hiện hành, thông thường là từ 50-60% từ năm 1972-1983.

Còn đối với Mexico, phần đầu tư công trên GDP đã tăng đến 30% vào năm 1981, làm tăng mạnh nhập khẩu (chủ yếu là vốn và hàng hóa trung gian), và kết quả là cán cân thương mại bị thâm hụt năng nề.

Nghiêm trọng hơn, chính phủ Mexico đầu tư phần lớn nguồn thu từ dầu mỏ cho việc thúc đẩy ngành sản xuất dầu và hỗ trợ cho các công ty dầu mỏ quốc doanh (công ty PEMEX).

Về vay vốn nước ngoài: Tại Indonesia, chính phủ tích cực hạn chế vay vốn nước ngoài, đặc biệt với trường hợp công ty dầu quốc doanh Pertamina.

Trong những năm 1970, Pertamina bắt đầu mở rộng hoạt động của mình vào đầu tư nhà máy thép, bất động sản, đội tàu chở dầu, khu nghỉ mát khách sạn và nhà máy phân bón. Đầu tiên Chính phủ đã cố gắng để kiểm soát việc vay mượn nước ngoài của công ty Pertamina cho các hoạt động đầu tư này bằng các quy định là yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước vay vốn nước ngoài phải do chính phủ phê duyệt cho cả vốn vay trung và dài hạn.

Pertamina sau đó chuyển sang vay vốn ngắn hạn, dẫn đến "cuộc khủng hoảng Pertamina" vào năm 1975, trong đó Pertamina đã vỡ nợ về khoản vay hơn 10 tỷ USD nợ ngắn hạn.

Chính phủ Indonesia sau đó đã ban hành thêm các quy định cấm các DN nhà nước vay trong thị trường ngắn hạn và DN nhà nước phải được sự cho phép của Ngân hàng trung ương Indonesia và Bộ Tài chính về tất cả các khoản vay từ bên ngoài.

Mặc dù bị sức ép từ sự khủng hoảng của Pertamina, nhưng các chính sách này đã chứng minh được tính phù hợp có lợi trong những năm bùng nổ dầu mỏ để kiểm soát vốn vay nước ngoài một cách chặt chẽ. Từ 1978-1982, tỷ lệ các khoản nợ ngắn hạn nhập khẩu không bao giờ vượt quá 18 % (trong khi, ở Mexico thì tỷ lệ này không bao giờ giảm xuống dưới 30 %).

Ở Mexico, việc vay vốn nước ngoài tăng kết hợp với tăng chi phí công có nghĩa là vốn vay nước ngoài dùng để chi trả các khoản chi tiêu công.

Về phá giá đồng tiền: trong giai đoạn bùng nổ tài nguyên, một đất nước có thể phá giá đồng tiền của mình để tránh hoặc sửa đổi sự tăng giá tỷ giá hối đoái thực tế. Cả Indonesia và Mexico đã làm theo cách này. Nhưng chỉ có Indonesia đã có thể duy trì hiệu lực của việc phá giá đồng tiền, ít nhất giai đoạn gay cấn từ năm 1978-1982, bởi vì Indonesia thực hiện quản lý các chính sách phù hợp, chẳng hạn như tích lũy các khoản thặng dư ngân sách. Do đó, ngân sách quốc gia của Indonesia không những cân bằng quá nhiều như theo nguyên tắc "ngân sách cân bằng," mà hơn thế thặng dư ngân sách đã được tích lũy mang tính chuyển đổi.

Ngược lại, Mexico duy trì mở rộng quan điểm về quản lý kinh tế vĩ mô sau khi phá giá đồng tiền, dẫn đến sự gia tăng vay nợ nước ngoài và báo hiệu về một dự đoán tiêu cực trong sự ổn định của nền kinh tế Mexico. Điều này cũng dẫn đến cuộc vật lộn về vốn và gia tăng thâm hụt ngân sách nhiều hơn, thậm chí gây nên cuộc khủng hoảng nợ vào năm 1982.

Những khác biệt chính giữa Indonesia và Mexico trong giai đoạn bùng nổ dầu mỏ được trình bày trong bảng dưới đây.

 

Indonesia

Mexico

Chính sách tài chính

 

Cấu thành chi tiêu ngân sách

Vay vốn nước ngoài

 

Phòng ngừa lạm phát trong thời gian bùng nổ dầu khí

Tuân thủ chính sách tài khóa bảo thủ theo "Nguyên tắc cân bằng ngân sách" và chuyển đổi tích lũy ngân sách thặng dư

Chủ yếu trong các ngành phi thương mại dầu mỏ

Hạn chế vay vốn của nước ngoài

 

Đề phòng lạm phát với nhu cầu phù hợp về quản lý chính sách (Ví dụ: xây dựng thặng dư ngân sách)

Mở rộng chính sách tài khóa, chi tiêu các khoản thu từ dầu, mỏ bừa bãi và thậm chí cả chi tiêu mạnh tay với vốn vay nước ngoài

Chủ yếu là đầu tư vào ngành dầu mỏ

Tích lũy các khoản nợ bên ngoài, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn, vì mở rộng chính sách tài khóa và vật lộn tìm vốn.

Không thể duy trì sự mất giá vì không phù hợp quản lý kinh tế vĩ mô


Theo: tuanvietnam.net


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Thêm bình luận


Security code
Đổi mã khác