Tiêu điểm



Nội dung hoạt động chính

 

 

 

 

 

 

Tuyển dụng

 

Tuyển chuyên gia dự án


 

 

Đăng nhập trang nội bộ



Điều tra, khảo sát hiện trạng khai thác tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú với gần 5.000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau. Những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do tình trạng hoạt động khai thác khoáng sản đang là vấn đề bức xúc diễn ra trên khắp cả nước. Một thực tế không thể phủ nhận rằng, không dễ dàng kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng một cách hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nhất là đối với nước ta, trong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khi mà nền kinh tế về cơ bản vẫn phải dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có hạn. Tuy vậy, nếu chúng ta quản lý tốt hoạt động khai thác khoáng sản và khai thác nước ngay từ khâu cấp phép thì các động của nó tới môi trường phần nào sẽ đựơc giảm thiểu và hiệu quả khai thác, sử dụng sẽ được tăng lên.
Theo quyết định số 1934/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường được giao thực hiện dự án “Điều tra, khảo sát hiện trạng khai thác tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước, đề xuất các cơ chế lồng ghép các yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc cấp phép khai thác tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước”. Mục tiêu  của Dự án là:
- Đánh giá những bất cập trong cơ chế cấp phép dẫn đến việc các doanh nghiệp có thể gây tổn hại cho môi trường trong quá trình khai thác một số tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước tại một số điểm nóng trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tại miền Bắc.
- Đề xuất các giải pháp, cơ chế lồng ghép các yêu cầu bảo vệ môi trường thông qua việc cấp phép, quản lý giấy phép, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước.

Các đơn vị tham gia thực hiện dự án
- Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường (Chủ trì dự án);
- Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam;
- Cục Quản lý Tài nguyên nước;
- Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh: Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Tây và Nghệ An.

Kết quả của Dự án

1. Kết luận
Trong quá trình điều tra, khảo sát hiện trạng khai thác tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước tại địa bàn một số tỉnh, Dự án đã rút ra được một số kết luận chính sau:
1. Về vĩ mô: Cần rà soát, đánh giá toàn diện việc thực hiện Luật Khoáng sản (năm 1996) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản (năm 2005) cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đề xuất việc xây dựng Luật Khoáng sản (sửa đổi) theo hướng: tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vốn, thiết bị, công nghệ trong khai thác, chế biến khoáng sản, đặc biệt là chế biến sâu, đặc biệt là đối với các loại khoáng sản kim loại, yêu cầu vốn đầu tư lớn, công nghệ tiên tiến; tăng cường trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác, chế biến khoáng sản trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản;
2. Có chính sách cụ thể nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư một cách nghiêm túc, có hiệu quả, nhất là khai thác, sử dụng triệt để, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản trong quá trình khai thác, chế biến khoáng sản; đồng thời bảo vệ môi trường, môi sinh trong quá trình khai thác, đạt mục tiêu phát triển bền vững trong hoạt động khoáng sản; có chính sách cụ thể nhằm khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư các dự án chế biến sâu khoáng sản để cung cấp cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu.
3. Luật Tài nguyên nước sau thời gian thi hành khoảng 10 năm đã bộc lộ một số bất cập, cần được sửa đổi, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế cuộc sống. Luật chưa có những quy định cụ thể về việc điều tra cơ bản, đánh giá số lượng, chất lượng tài nguyên nước, từ đó định hướng những chính sách quản lý cụ thể. Một trong những vấn đề tồn tại mà các tỉnh đề cập là việc thiếu thông tin, dữ liệu cụ thể ở một mức độ chi tiết phù hợp phục vụ công tác tham mưu chỉ đạo điều hành. Các quy định về quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông, theo hướng tổng hợp và bền vững cũng chưa được xây dựng và hình thành. Do đó, các mô hình, các hoạt động quản lý lưu vực sông mới chỉ trên quan điểm thử nghiệm hoặc lý thuyết. Việc lồng ghép, tổng hợp, thống nhất các hoạt động liên quan đến quản lý các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường nói chung với các hoạt động quản lý tài nguyên nước trên lưu vực sông chưa được pháp quy hóa, gây khó khăn khi triển khai. Quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch lưu vực sông được coi là những công cụ hết sức quan trọng cho công tác quản lý hầu như cũng chưa được thực hiện ở các địa phương và thực hiện ở mức độ còn khá khiêm tốn ở cấp trung ương. Ngoài việc thiếu hành lang pháp lý cho công tác quy hoạch, các quy định về nội dung, trình tự thủ tục lập, thẩm định quy hoạch, các hướng dẫn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật cũng chưa được xác định, làm cho việc triển khai những hoạt động này trong thực tế hết sức khó khăn. Cơ chế tài chính, đặc biệt là những khoản thu từ việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước chưa được quy định rõ, gây những vướng mắc nhất định khi thực hiện chủ trương kinh tế hóa, tài chính hóa ngành tài nguyên và môi trường. Chế tài xử phạt các vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước (và nằm chung trong bối cảnh các vi phạm hành chính khác) còn nhẹ, chưa đủ mức răn đe cần thiết.
2. Kiến nghị
Từ những kết luận trên, Dự án xin đưa ra một số giải pháp, cơ chế lồng ghép các yêu cầu bảo vệ môi trường thông qua việc cấp phép, quản lý giấy phép, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước như sau:
1. Thẩm định về năng lực của các tổ chức, cá nhân xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản: Trên thực tế, do không có đủ năng lực về trang thiết bị, công nghệ, nhân lực… một số tổ chức, cá nhân sau khi được cấp giấy phép khai thác khoáng sản đã thuê các đơn vị khác khai thác và chỉ quan tâm kiểm tra, giám sát khối lượng sản phẩm mà không quan tâm đến việc các đơn vị được thuê khai thác có tuân thủ các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan hay không. Các đơn vị được thuê khai thác thì cho rằng việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường là nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ giấy phép khai thác khoáng sản, họ chỉ tập trung vào khối lượng sản phẩm được khai thác, chỉ khai thác những chỗ dễ khai thác, quặng giàu, thuận tiện cho việc vận chuyển. Chính vì những lý do trên mà việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản đối với những trường hợp thuê khai thác trên thực tế là không đảm bảo, gây thất thoát, lãng phí tài nguyên quốc gia, huỷ hoại cảnh quan, môi trường.
2. Thực hiện nghiêm túc, nâng cao chất lượng thẩm định nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường/bản cam kết bảo vệ môi trường trong công tác cấp giấy phép khai thác khoáng sản và khai thác nước: Báo cáo đánh giá tác động môi trường/bản cam kết bảo vệ môi trường đã được phê duyệt/xác nhận là một trong những cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét việc cấp giấy phép khai thác. Kết quả thanh tra, kiểm tra hồ sơ cấp, gia hạn giấy phép khai thác khoáng sản và khai thác nước cho thấy các thủ tục về bảo vệ môi trường đối với các dự án khai thác thường được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt/thẩm định xem nhẹ, có nội dung sơ sài, hình thức, không phản ánh được đầy đủ những tác động môi trường của các dự án khai thác đến môi trường, cũng như không đề ra được các biện pháp hợp lý và hiệu quả để khắc phục môi trường. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hậu quả là các dự án khai thác tài nguyên gây ảnh hưởng lớn đến môi trường, đặc biệt là các dự án khai thác các loại khoáng sản độc hại, các dự án có vị trí tại đầu nguồn sông, suối.
3. Xây dựng cơ sở pháp lý để tăng cường vai trò tham gia trực tiếp của người dân (tham vấn cộng đồng) vào quá trình xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường của tất cả các dự án khai thác tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước; có đại diện cộng đồng tham gia vào Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; được phép giám sát công tác bảo vệ môi trường trong suốt quá trình xây dựng dự án cũng như khi dự án đi vào hoạt động. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu đây là cơ hội để họ thực hiện quyền làm chủ của mình đối với cộng đồng, khắc phục tâm lý ỷ lại vào các cấp chính quyền.