Nhiệm vụ trọng tâm



Tham khảo

 
 
 

 

Sự kiện sắp tới

Tài liệu khóa học mùa hè


 

 

Đăng nhập



Hiện trạng thông tin, dữ liệu về tài nguyên và môi trường - Lĩnh vực đo đạc bản đồ
Chỉ mục bài viết
Hiện trạng thông tin, dữ liệu về tài nguyên và môi trường
Thông tin chung
Lĩnh vực đất đai
Lĩnh vực tài nguyên nước
Lĩnh vực khoáng sản
Lĩnh vực môi trường
Lĩnh vực khí tượng thuỷ văn
Lĩnh vực đo đạc bản đồ
Lĩnh vực biển và hải đảo
Thông tin tích hợp tài nguyên và môi trường
Tất cả các trang
6. Lĩnh vực đo đạc bản đồ
Thông tin, dữ liệu về lĩnh vực đo đạc bản đồ hiện chủ yếu được quản lý bởi Cục Đo đạc bản đồ và Nhà xuất bản bản đồ của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các dữ liệu nêu trên bao gồm:
- Mạng lưới toạ độ quốc gia cấp "0", hạng I, II gồm 1736 điểm phủ trùm toàn quốc, mạng lưới địa chính cơ sở (tương đương toạ độ hạng III) gồm trên 13.000 điểm phủ trùm toàn quốc.
- Mạng lưới độ cao quốc gia hạng I, II, III, IV phủ trùm toàn quốc.
- Mạng lưới trọng lực quốc gia hạng I, II phủ trùm toàn quốc.
- Hệ thống trạm GPS cố định: 5 trạm trong đó có 3 trạm phục vụ công tác phân giới cắm mốc biên giới Việt - Trung.
- Dữ liệu bản đồ địa hình tỷ lệ 1/1.000.000, 1/500.000, 1/250.000, 1/100.000. Bộ dữ liệu 1/50.000 phủ trùm toàn quốc. Tỷ lệ 1/25.000, tỷ lệ 1/10.000 khu vực kinh tế trọng điểm. Tỷ lệ lớn ở các đô thị.
- Dữ liệu ảnh hàng không, vệ tinh.
- Các loại bản đồ khác gồm:
+ Bộ bản đồ địa giới hành chính 364/CT các cấp tỉnh, huyện, xã của cả nước;
+ Bản đồ hành chính cả nước, bản đồ hành chính 61 tỉnh;
+ Bộ bản đồ biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Trung Quốc tỷ lệ 1/50.000;
+ Bản đồ địa hình đáy biển một số khu vực.
Việc quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc bản đồ chủ yếu được dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, các quy trình, quy phạm, các quy chế, các định mức kinh tế kỹ thuật…. Mặc dù đây là một khối lượng văn bản rất lớn, tuy nhiên phần lớn các văn bản này đã được ban hành rất lâu và hầu hết là ở dạng in trên giấy trong khi đó yêu cầu đáp ứng thông tin tức thời nhằm nâng cao chất lượng quản lý kinh tế, chất lượng sản phẩm lại đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ thông tin. Đây là một hạn chế không nhỏ trong việc quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ hiện nay. Hơn nữa, về thực chất Cục Đo đạc và Bản đồ vốn đã ra đời từ rất lâu (1959) do vậy hiện nay việc thu thập lại toàn bộ các văn bản đã được ban hành cũng là một việc không dễ dàng, đòi hỏi phải tốn rất nhiều công sức.
Chỉ tính riêng từ năm 1994 (năm thành lập Tổng cục Địa chính) đến nay đã có khoảng 40 văn bản tương đối hoàn chỉnh phục vụ quản lý Nhà nước về đo đạc bản đồ bao gồm các qui phạm, ký hiệu bản đồ, qui định kỹ thuật, qui chế, hướng dẫn, định mức kinh tế kỹ thuật…
Truớc đây, Trung tâm Thông tin Lưu trữ tư liệu địa chính (cũ) cũng đã xây dựng và ban hành tập “Thông báo tư liệu đo đạc bản đồ” nhưng đối tượng chủ yếu lại là cho người sử dụng chứ không phải để phục vụ cho việc quản lý ở tầm vĩ mô, hơn nữa tập thông báo tư liệu này lại là bản phát hành trên giấy. Trong khi đó, để nâng cao chất lượng quản lý công tác đo đạc bản đồ thì mỗi cán bộ công chức của Cục Đo đạc và Bản đồ cần phải theo dõi và cập nhật thường xuyên các thông tin về đo đạc bản đồ. Công việc này chỉ có thể được thực hiện một cách tốt nhất với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Đây cũng là một hạn chế nữa của công tác quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc hiện nay.
Sau khi Nghị định 12/2001/NĐ-CP ngày 22/01/2001 của Chính phủ về hoạt động đo đạc bản đồ được ban hành, một công việc khác không kém phần quan trọng của Cục Đo đạc và Bản đồ là hướng dẫn các Bộ, Ngành, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có tham gia hoạt động đo đạc bản đồ đăng ký hoạt động đo đạc bản đồ và thực hiện các hoạt động đo đạc bản đồ theo các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất. Hiện nay, toàn bộ các hồ sơ đăng ký hoạt động đo đạc bản đồ của các đơn vị, tổ chức này đều ở dạng trên giấy do vậy việc quản lý, theo dõi các đơn vị trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn vì số lượng các đơn vị được cấp phép đã lên tới hàng trăm và dự kiến sẽ còn tăng lên rất nhiều trong tương lai khi Thông tư hướng dẫn đăng ký hoạt động đo đạc bản đồ ra đời. Do vậy để quản lý có hiệu quả thì không có cách nào khác là phải đưa toàn bộ các hồ sơ này vào cơ sở dữ liệu để thuận tiện cho việc theo dõi giám sát các đơn vị có thực hiện theo đúng phần việc được cấp phép hay không, có thực hiện các công tác đo đạc bản đồ khi giấy phép đã hết hạn sử dụng hay không…
Công tác quản lý hoạt động đo đạc bản đồ ở Cục Đo đạc và Bản đồ hiện tại còn rất thủ công. Thông tin phục vụ quản lý còn tản mạn, truy tìm khó khăn và mất thời gian. Việc chia sẻ thông tin ít và rất hạn chế. Tất cả những điều đó ảnh hưởng rất lớn đế việc xử lý và ban hành các quyết địng quản lý nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Với lực lượng cán bộ quản lý có hạn như hiện nay công tác quản lý đang gặp và sẽ tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn nếu không đổi mới.
Với hiện trạng dữ liệu về đo đạc – bản đồ như vậy, để làm đầu vào cho cơ sở dữ liệu chính sách tài nguyên và môi trường sẽ cần những xúc tiến đầu tư thu thập và xây dựng danh mục dữ liệu ngành đo đạc bản đồ và tích hợp với cơ sở dữ liệu chính sách tài nguyên và môi trường, trong đó chú trọng đến các dữ liệu GIS.