VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

https://isponre.gov.vn


Dự án xây dựng Cơ sở dữ liệu về Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

Tổng quan
Thông tin có vai trò vô cùng quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với các cơ quan Chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong thời đại hiện nay. Ai làm chủ được thế giới thông tin sẽ làm chủ được tri thức của nhân loại.Việc công bố, giới thiệu các thông tin hay tiếp cận với các thông tin ngày nay trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết với sự phát triển nhanh chóng của Internet. Người có nhu cầu sử dụng thông tin có nhiều sự lựa chọn hơn, dễ dàng tìm kiếm thông tin hơn, tuy nhiên, điều mà người tiếp cận thông tin quan ngại là sự tin cậy, chân thực của các thông tin. Trong nhiều trường hợp, do thiếu thông tin hoặc tiếp nhận các thông tin không chính xác, tin cậy có thể dẫn đến việc đưa ra các quyết định gây thiệt hại cho chính bản thân người ra quyết định, thậm chí cho cả xã hội.
Trong việc hoạch định chiến lược, chính sách thì thông tin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và luôn phải đi trước một bước. Thông tin là nguyên liệu “đầu vào” quan trọng cho quá trình hoạch định chiến lược, chính sách. Không thể có chiến lược, chính sách tốt, phù hợp với thực tiễn nếu như không có đủ thông tin hay thông tin không xác thực. Bên cạnh đó, các đối tượng chịu sự điều chỉnh của các chiến lược, chính sách cũng có được các thông tin hữu ích để định hướng hành vi, hoạt động của mình phù hợp với các quy định của Chính phủ. Do vậy, để phục vụ tốt hơn nhu cầu tiếp cận và sử dụng hiệu quả các thông tin thì việc tích hợp các thông tin, đặc biệt là các thông tin chuyên ngành là một công việc vô cùng cần thiết. Việc tổng hợp, tích hợp các thông tin thành hệ thống như vậy được gọi là xây dựng cơ sở dữ liệu.
Cơ sở dữ liệu ngày nay được biết đến như là một thư viện, một nguồn thông tin đáng tin cậy. Mọi thông tin hay các thông tin chuyên ngành có thể được truy cập, tiếp cận từ hệ thống các cơ sở dữ liệu. Các thông tin đều được chia sẻ và trở thành tài sản chung của cộng đồng. Ở các nước, đặc biệt là các nước phát triển, việc xây dựng cơ sở dữ liệu luôn là một công việc được ưu tiên đầu tư của Chính phủ cũng như các bộ, ngành. Hoạt động này hiện nay cũng trở thành xu hướng tất yếu ở các nước đang phát triển.

Sự cần thiết đối với công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách
Công tác nghiên cứu, đề xuất và xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong những  năm gần đây đã có những bước tiến quan trọng, đóng góp tích cực trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường cũng như tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Các thông tin, dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường rất lớn và đa dạng. Nghiên cứu, xây dựng các chiến lược, chính sách cụ thể để quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường thành công, đáp ứng yêu cầu quản lý và phù hợp với thực tiễn thì các thông tin, dữ liệu làm “đầu vào” cho công tác này thì không chỉ dừng lại trong khuôn khổ 07 lĩnh vực của ngành mà còn bao gồm nhiều thông tin khác nhau như: chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, văn hóa, lịch sử, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch  của các ngành, lĩnh vực và các địa phương, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và các kinh nghiệm, kiến thức quản lý của các triều đại phong kiến Việt Nam hay các kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học, dự án về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, các kinh nghiệm của các nước hoặc các điều ước quốc tế, cam kết quốc tế cũng là những dữ liệu quan trọng, là căn cứ để nghiên cứu, hoạch định chiến lược, chính sách quốc gia về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Trong đó, nhiều thông tin, dữ liệu là nguồn tài liệu có giá trị rất lớn, nhiều dữ liệu có vai trò lịch sử, có những dữ liệu là cơ sở về pháp lý, chính trị,...
Cùng với sự phát triển của ngành tài nguyên và môi trường và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu, rộng như hiện nay, các thông tin, dữ liệu phục vụ xây dựng chiến lược, chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường không ngừng được tạo ra và ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Tuy nhiên, hầu hết các thông tin, dữ liệu phục vụ nghiên cứu, xây dựng chiến lược và chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đến nay vẫn chưa được thu thập, lưu giữ và tổ chức quản lý tương xứng với giá trị, tầm quan trọng của nó. Thông tin, dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, hoạch định chiến lược, chính sách  quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đến nay hầu như chưa được thu thập, hệ thống hóa. Một số các thông tin, dữ liệu đã được thu thập, lưu giữ nhưng lại được quản lý với các mục đích khác nhau. Các thông tin, số liệu hiện có thậm chí chưa được thu thập đầy đủ, thiếu đồng bộ và nằm phân tán ở nhiều ngành khác nhau hoặc ở nhiều cơ quan khác nhau và chưa được hệ thống hóa hay tích hợp chung để phục vụ các tốt hơn nhu cầu tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin, tránh sự trùng lặp trong điều tra, thu thập, xử lý và tạo nguồn thông tin, dữ liệu tin cậy cho hoạt động quản lý và ra quyết định.  Trong khi đó, việc đầu tư trang thiết bị, công nghệ phục vụ hiện đại hóa hệ thống quản lý tư liệu, thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, xây dựng chiến lược, chính sách về tài nguyên và môi trường cũng như xây dựng cơ chế phối hợp thu thập, xử lý và khai thác thông tin, dữ liệu là một vấn đề cần được quan tâm đúng mức, nhằm đảm bảo các điều kiện cần thiết cho việc khai thác, lưu trữ bảo quản tài liệu lâu dài phù hợp với nguồn kinh phí đầu tư lớn của Nhà nước để tạo ra nó. Đồng thời nhu cầu tin học hoá, hiện đại hoá công tác thông tin - lưu trữ xuất phát từ sự thúc đẩy của công nghệ thông tin. Đây là một quá trình phát triển tất yếu của xã hội, do trước đây các thông tin làm ra chủ yếu được lưu giữ theo công nghệ truyền thống (bằng văn bản) nên có một khối lượng lớn thông tin đang được lưu trữ, quản lý hiện nay chủ yếu ở dạng tương tự (analog). Khối thông tin này thường khó tiếp cận và khó lưu trữ lâu dài, cần được chuyển đổi sang dạng số (digital). Bên cạnh đó, đến nay rất nhiều các sản phẩm của ngành tài nguyên và môi trường đã chuyển sang dạng số nên việc tạo ra hệ thống lưu giữ chúng bằng công nghệ số là nhu cầu tự nhiên và tất yếu, nhằm làm đơn giản hóa việc tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu.
Mặt khác các nhu cầu xuất phát từ bản thân lĩnh vực nghiên cứu ban hành chính sách, chiến lược nói riêng cũng đặt ra những yêu cầu phải thay đổi, hiện đại hoá công tác lưu giữ, hệ thống hóa các thông tin  dữ liệu bởi các lý do: (1) khối lượng tư liệu ngày một lớn, (2) chủng loại tư liệu ngày càng phong phú do sự phát triển của các công nghệ sinh ra nó, (3) nhu cầu khai thác thông tin, tư liệu ngày một tăng: cả về mặt thời gian, khối lượng và tính chất của thông tin.
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về 07 lĩnh vực (đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ, biển và hải đảo), công tác nghiên cứu, hoạch định chiến lược, chính sách quản lý cho cả ngành và đối với từng lĩnh vực là hoạt động ưu tiên của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế công tác này đang gặp các khó khăn nhất định, tác động đến chất lượng, tính khả thi của từng chiến lược, chính sách cụ thể. Một trong những khó khăn đó là Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường chưa có một cơ sở dữ liệu thống nhất về chiến lược, chính sách làm căn cứ, “đầu vào” cho hoạt động hoạch định chiến lược, chính sách. Điều này làm cho việc khai thác, tiếp cận thông tin trong quá trình nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược của ngành hay của từng lĩnh vực cụ thể gặp rất nhiều khó khăn. Trên cơ sở đó, xây dựng và hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường, nhằm hỗ trợ nghiên cứu khoa học, hoạch định chiến lược, chính sách trên nền hạ tầng hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông tiên tiến, phù hợp với xu thế phát triển chung so với các ngành kinh tế - xã hội trong nước cũng như trên thế giới.
Với ý nghĩa đó, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường được Bộ giao tổ chức xây dựng và thực hiện Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách về tài nguyên và môi trường. Cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường sẽ là một thành phần trong hệ thống thông tin tài nguyên - môi trường và là cơ sở dữ liệu tin cậy nhằm cung cấp những thông tin dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu và xây dựng chiến lược, chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng như việc triển khai thực hiện các chiến lược, chính sách này. Cùng với việc xây dựng cơ sở dữ liệu, Dự án cũng sẽ xây dựng một cơ chế hoạt động bao gồm quy chế quản lý và một tổ chức thực hiện quản lý thông tin dữ liệu về chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường.


1. Phạm vi của Dự án
Tập trung vào việc thu thập, xử lý và hệ thống hoá các thông tin, dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, xây dựng chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu, trang bị máy móc, thiết bị và tăng cường năng lực để vận hành cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường.

2. Mục tiêu Dự án
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Đáp ứng nhu cầu tiếp cận, khai thác thông tin, dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, hoạch định chiến lược, chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường phục vụ công tác nghiên cứu, xây dựng chiến lược, chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của toàn ngành.

3. Nhiệm vụ:
3.1. Điều tra, nghiên cứu thực trạng, nhu cầu, phạm vi và yêu cầu đối với cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường.
3.2. Thu thập, xử lý, hệ thống hoá và lập danh mục các thông tin, dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, xây dựng chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường (xây dựng nội dung cơ sở dữ liệu).
3.3. Xây dựng, thiết kế hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường.
3.4. Triển khai trang thiết bị phần cứng, phần mềm hệ thống, phần mềm gốc, truyền thông.
3.5. Đào tạo, tăng cường năng lực cho Trung tâm Thông tin Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu.
3.6. Tổ chức đưa hệ thống cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường vào hoạt động.

4. Sản phẩm của Dự án
4.1. Báo cáo tổng hợp về hiện trạng, nhu cầu, phạm vi và yêu cầu đối với cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường.
4.2. Các thông tin, dữ liệu liên quan đến chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường, bao gồm:
a) Chủ trương, chiến lược, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội và phát triển bền vững;
b) Chiến lược, chính sách, các tài liệu nghiên cứu của 07 lĩnh vực của ngành tài nguyên và môi trường;
c) Chiến lược, chính sách, các tài liệu của 20 ngành kinh tế có liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường (theo Danh mục hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, ban hành theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 1 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ).
d) Chiến lược, chính sách, tài liệu nghiên cứu của 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
đ) Chiến lược, chính sách, tài liệu nghiên cứu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của các nước trên thế giới (30 nước: các nước phát triển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi và các nước trong khu vực);
e) Các tài liệu về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của các tổ chức quốc tế (kể cả các điều ước quốc tế song phương và đa phương, pháp luật quốc tế);
g) Chiến lược, chính sách, tài liệu nghiên cứu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường qua các triều đại phong kiến và các giai đoạn phát triển của Việt Nam;
4.3. Phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường được thiết kế; các thiết bị phần cứng và website để vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường.
4.4. Đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ (thuộc Trung tâm Thông tin chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường) vận hành cơ sở dữ liệu và cơ chế quản lý cơ sở dữ liệu (bao gồm quy chế thu thập, cập nhật, xử lý, khai thác, cung cấp thông tin, dữ liệu).

5. Thời gian thực hiện
3 năm, 2008-2010

6. Cơ quan chủ quản
Bộ Tài nguyên và Môi trường

7. Đơn vị chủ trì thực hiện
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

8. Cơ quan phối hợp
8.1. Các đơn vị trong Bộ: Cục Công nghệ thông tin, Vụ Pháp chế, Vụ Kế hoạch, Vụ Tài chính, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ, Tổng cục Biển và Hải Đảo, Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục Địa chất khoáng sản, Cục Đo đạc và Bản đồ, Cục Khí tượng thuỷ văn và Biến đổi khí hậu.
8.2. Các bộ, ngành liên quan: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Lao động và Thương binh xã hội, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Văn phòng Quốc hội.
8.3. Các cơ quan nghiên cứu khoa học: Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội…
8.4. Các tổ chức quốc tế, đại sứ quán tại Việt Nam
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây